QUY ĐỊNH MỚI VỀ XÉT TUYỂN VIÊN CHỨC TỪ NĂM 2026
Từ ngày 1/7/2026, việc tuyển dụng viên chức thông qua hình thức xét tuyển sẽ được thực hiện riêng biệt đối với 4 nhóm đối tượng cụ thể. Nhóm đầu tiên là những người cam kết tình nguyện làm việc từ đủ 3 năm trở lên tại các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, áp dụng trong lĩnh vực y tế, giáo dục và các ngành thiết yếu khác.
Nhóm thứ hai bao gồm người học theo chế độ cử tuyển của Luật Giáo dục, sau khi tốt nghiệp sẽ trở về công tác tại địa phương nơi cử đi học. Nhóm thứ ba hướng đến việc thu hút nhân lực chất lượng cao, dành cho sinh viên tốt nghiệp xuất sắc và người có tài năng theo quy định của Chính phủ hoặc cơ quan quản lý viên chức. Nhóm cuối cùng là các trường hợp đặc thù khác theo quy định của pháp luật về từng ngành, lĩnh vực.
Chính sách cộng điểm ưu tiên trong tuyển dụng
Điều 8 Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định mức điểm ưu tiên được cộng thẳng vào kết quả Vòng 2 (thi tuyển hoặc xét tuyển) theo các mức độ đóng góp và đối tượng cụ thể:
| Mức điểm cộng | Đối tượng áp dụng |
| + 7,5 điểm | Anh hùng Lực lượng vũ trang; Anh hùng Lao động; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B. |
| + 5,0 điểm | Người dân tộc thiểu số; Sĩ quan quân đội/công an xuất ngũ; Người làm cơ yếu chuyển ngành; Học viên tốt nghiệp đào tạo sĩ quan dự bị/chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã; Con của: Người hoạt động cách mạng (trước 1945 và từ 1945 – khởi nghĩa tháng Tám), Liệt sĩ, Thương binh, Bệnh binh, Anh hùng LLVT, Anh hùng Lao động, người nhiễm chất độc hóa học. |
| + 2,5 điểm | Người hoàn thành nghĩa vụ quân sự/nghĩa vụ công an; Công nhân, viên chức quốc phòng thôi việc (trong độ tuổi lao động); Đội viên thanh niên xung phong, trí thức trẻ tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ tại khu kinh tế quốc phòng. |
| + 1,5 điểm | Cán bộ công đoàn trưởng thành từ cơ sở, trong phong trào công nhân theo quy định. |
Lưu ý quan trọng: Trường hợp người dự tuyển thuộc nhiều diện ưu tiên nêu trên thì chỉ được cộng một điểm ưu tiên cao nhất vào kết quả vòng 2.
Lộ trình chuyển tiếp và bố trí vị trí việc làm
Về công tác quản lý nhân sự, viên chức được tuyển dụng trước ngày 1/7/2026 sẽ được sắp xếp và bố trí vào vị trí việc làm mới. Chậm nhất đến ngày 1/7/2027, các bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan được phân cấp phải hoàn thành việc ban hành quyết định phê duyệt vị trí việc làm mới để thay thế cho các quyết định trước đó.
Trong thời gian chờ ban hành quyết định mới, các đơn vị vẫn tiếp tục áp dụng quyết định phê duyệt cũ để tuyển dụng, sử dụng và quản lý. Đối với viên chức tuyển dụng từ sau ngày 1/7/2026 tại các đơn vị chưa được phê duyệt danh mục mới, đơn vị đó cũng phải khẩn trương hoàn thành việc phê duyệt và bố trí nhân sự xong trước mốc 1/7/2027.
Nguyên tắc xác định danh mục vị trí việc làm
Danh mục vị trí việc làm khung trong các đơn vị sự nghiệp công lập được chia thành 3 nhóm rõ rệt: vị trí việc làm quản lý (Phụ lục I), vị trí việc làm chuyên môn nghiệp vụ (Phụ lục II), và vị trí việc làm hỗ trợ (Phụ lục III). Mỗi lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp có tính chất chuyên môn tương đồng sẽ được xác định là một vị trí việc làm.
Việc quản lý vị trí việc làm phải đảm bảo nghiêm ngặt hai nguyên tắc: không phát sinh vị trí ngoài danh mục khung của Chính phủ, và giữ nguyên tên gọi, không được tự ý chia tách hoặc gộp các vị trí việc làm đã ban hành. Nếu pháp luật chuyên ngành có quy định riêng về danh mục vị trí việc làm viên chức thì sẽ thực hiện theo quy định chuyên ngành đó.
Tiêu chí phân định vị trí chuyên môn và vị trí hỗ trợ
Trong trường hợp một vị trí việc làm xuất hiện đồng thời ở cả danh mục chuyên môn và danh mục hỗ trợ, cơ quan thẩm quyền sẽ dựa vào 4 tiêu chí cốt lõi để phân định. Đầu tiên là mức độ gắn với nhiệm vụ chính: nếu trực tiếp thực hiện chuyên môn của đơn vị thì là vị trí chuyên môn, nghiệp vụ; nếu phục vụ điều hành chung thì là vị trí hỗ trợ.
Tiêu chí thứ hai dựa trên tính chất sản phẩm đầu ra: sản phẩm chuyên ngành độc lập được tính là chuyên môn, nghiệp vụ; sản phẩm phục vụ nội bộ được tính là hỗ trợ. Tiêu chí thứ ba là yêu cầu năng lực: vị trí đòi hỏi kiến thức chuyên sâu, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp là chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí chỉ yêu cầu kỹ năng nghiệp vụ dùng chung là hỗ trợ.
Cuối cùng là vai trò trong quy trình: vị trí tham gia trực tiếp vào việc tạo ra dịch vụ công cốt lõi của đơn vị sẽ được xác định là vị trí chuyên môn, nghiệp vụ; trong khi vị trí mang tính chất bảo đảm, phục vụ quá trình đó sẽ được xếp vào vị trí hỗ trợ.
