CẢNH GIÁC THỦ ĐOẠN LỪA ĐẢO NÚP BÓNG DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN: CHỈ VÀI PHÚT BẤT CẨN CÓ THỂ MẤT TOÀN BỘ TIỀN TRONG TÀI KHOẢN
Trong bối cảnh các dịch vụ công và giao dịch tài chính ngày càng được thực hiện trên môi trường số, các đối tượng lừa đảo công nghệ cao cũng liên tục thay đổi phương thức hoạt động với thủ đoạn ngày càng tinh vi. Một trong những hình thức đang diễn biến phức tạp hiện nay là mạo danh cơ quan công an, ngân hàng, Bảo hiểm xã hội (BHXH), cơ quan thuế hoặc các cơ quan nhà nước để yêu cầu người dân cài đặt ứng dụng giả mạo.
Chỉ sau vài phút làm theo hướng dẫn của các đối tượng, nhiều nạn nhân đã bị chiếm quyền điều khiển điện thoại, đánh cắp thông tin ngân hàng và mất toàn bộ số tiền trong tài khoản. Vì vậy, việc nhận diện sớm các dấu hiệu lừa đảo cũng như hiểu rõ quy định của pháp luật là giải pháp quan trọng giúp mỗi người chủ động bảo vệ tài sản của mình.
Tạo tình huống khẩn cấp để đánh vào tâm lý nạn nhân
Lợi dụng việc người dân đã quen với các thủ tục trực tuyến như cập nhật thông tin định danh điện tử, xác thực sinh trắc học hay giao dịch ngân hàng số, các đối tượng lừa đảo thường gọi điện hoặc nhắn tin tự xưng là cán bộ công an, nhân viên ngân hàng, cán bộ BHXH hoặc cơ quan thuế.
Các đối tượng sẽ đưa ra những lý do mang tính cấp bách như:
- Cập nhật hoặc đồng bộ dữ liệu VNeID;
- Chuẩn hóa thông tin Căn cước công dân;
- Xác thực sinh trắc học để tiếp tục sử dụng tài khoản ngân hàng;
- Hoàn thiện hồ sơ BHXH;
- Tránh bị khóa tài khoản hoặc gián đoạn giao dịch.
Những thông tin này thường được trình bày với giọng điệu chuyên nghiệp, tạo cảm giác khẩn cấp nhằm khiến người nghe mất cảnh giác và thực hiện theo hướng dẫn ngay trong cuộc gọi.
Ứng dụng giả mạo – “cánh cửa” để mã độc chiếm quyền điều khiển điện thoại
Sau khi tạo được lòng tin, các đối tượng sẽ gửi cho nạn nhân một đường link, mã QR hoặc tệp cài đặt có định dạng APK (đối với điện thoại Android), yêu cầu tải và cài đặt để “xác thực” hoặc “cập nhật hệ thống”.
Thực tế, đây là các ứng dụng giả mạo chứa mã độc.
Ngay sau khi được cài đặt, ứng dụng sẽ yêu cầu người dùng cấp các quyền như:
- Quyền trợ năng (Accessibility);
- Quyền đọc tin nhắn;
- Quyền hiển thị trên ứng dụng khác;
- Quyền điều khiển thiết bị.
Nếu người dùng đồng ý cấp quyền, mã độc có thể:
- Theo dõi toàn bộ thao tác trên điện thoại;
- Đánh cắp tên đăng nhập và mật khẩu ngân hàng;
- Lấy mã OTP, Smart OTP;
- Điều khiển điện thoại từ xa để thực hiện các giao dịch chuyển tiền mà chủ tài khoản không hề hay biết.
Đây chính là nguyên nhân khiến nhiều nạn nhân bị mất toàn bộ tiền trong tài khoản chỉ trong thời gian rất ngắn.
Cơ quan nhà nước và ngân hàng không yêu cầu người dân cài ứng dụng qua đường link lạ
Điểm chung trong hầu hết các vụ việc là đối tượng luôn yêu cầu người dân thao tác ngay, không có thời gian kiểm chứng thông tin.
Tuy nhiên, cần khẳng định rằng:
- Cơ quan công an, BHXH, cơ quan thuế và các cơ quan nhà nước không yêu cầu người dân cài đặt ứng dụng thông qua đường link, mã QR hoặc tệp APK được gửi qua Zalo, Facebook, Messenger, SMS hoặc email.
- Ngân hàng cũng không yêu cầu khách hàng cung cấp mật khẩu, mã OTP, Smart OTP, chia sẻ màn hình điện thoại hoặc cấp quyền điều khiển thiết bị để hỗ trợ giao dịch.
Do đó, khi nhận được các cuộc gọi hoặc tin nhắn có nội dung tương tự, người dân cần hết sức bình tĩnh, chủ động xác minh thông tin thông qua tổng đài hoặc các kênh chính thức của cơ quan, tổ chức liên quan.
Đồng thời, tuyệt đối:
- Không cài đặt ứng dụng từ nguồn không rõ ràng;
- Không quét mã QR do người lạ gửi;
- Không cấp quyền điều khiển điện thoại cho ứng dụng không xác định nguồn gốc;
- Không cung cấp mã OTP, Smart OTP hoặc thông tin đăng nhập ngân hàng cho bất kỳ ai.
Trong trường hợp đã lỡ cài đặt ứng dụng nghi chứa mã độc, người dùng cần nhanh chóng ngắt kết nối Internet, liên hệ ngay với ngân hàng để khóa tài khoản, đổi toàn bộ mật khẩu và trình báo cơ quan công an để được hỗ trợ kịp thời.
Chế tài xử lý đối với hành vi giả mạo ứng dụng để lừa đảo
Hành vi giả mạo cơ quan nhà nước hoặc ngân hàng nhằm lừa người dân cài đặt ứng dụng, từ đó chiếm đoạt tài sản không chỉ gây thiệt hại nghiêm trọng cho người bị hại mà còn có thể bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Xử phạt vi phạm hành chính
Theo điểm a khoản 1 Điều 95 Nghị định số 174/2026/NĐ-CP, cá nhân lợi dụng mạng xã hội để cung cấp hoặc chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
Đối với tổ chức vi phạm, mức phạt được áp dụng gấp hai lần mức phạt đối với cá nhân theo quy định của Nghị định.
Ngoài ra, điểm a khoản 3 Điều 94 Nghị định số 174/2026/NĐ-CP còn quy định mức phạt từ 50 triệu đồng đến 70 triệu đồng đối với tổ chức cung cấp dịch vụ mạng xã hội không thực hiện trách nhiệm ngăn chặn hoặc gỡ bỏ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật và các nội dung vi phạm pháp luật theo quy định.
Bên cạnh hình thức xử phạt bằng tiền, cơ quan có thẩm quyền còn có thể buộc gỡ bỏ nội dung vi phạm và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật.
Truy cứu trách nhiệm hình sự
Trong trường hợp đối tượng giả danh cơ quan nhà nước hoặc ngân hàng nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, hành vi này thường không chỉ dừng lại ở xử phạt hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản trị giá từ 02 triệu đồng trở lên có thể bị xử lý hình sự với mức hình phạt từ cải tạo không giam giữ đến 03 năm, phạt tù từ 06 tháng đến 20 năm, thậm chí tù chung thân nếu chiếm đoạt tài sản có giá trị đặc biệt lớn theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, nếu hành vi được thực hiện thông qua mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử, người vi phạm còn có thể bị xử lý theo Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, với mức hình phạt cao nhất lên đến 20 năm tù.
