NGƯỜI CHẤP HÀNH XONG ÁN PHẠT TÙ ĐƯỢC HỖ TRỢ HỌC NGHỀ, VAY VỐN VÀ TÌM VIỆC THẾ NÀO?
Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, việc hỗ trợ học nghề, vay vốn, tìm kiếm việc làm và ổn định cuộc sống có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng. Nhằm tạo điều kiện để người chấp hành xong hình phạt tù có cơ hội xây dựng cuộc sống ổn định, Nghị định 247/2026/NĐ-CP đã quy định cụ thể các chính sách hỗ trợ về đào tạo nghề, vay vốn, tư vấn, giới thiệu và tạo việc làm.
Được hỗ trợ học nghề
Theo khoản 1 Điều 9 Nghị định 247/2026/NĐ-CP, người chấp hành xong hình phạt tù khi tham gia các chương trình giáo dục nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về giáo dục nghề nghiệp được hưởng chính sách hỗ trợ đào tạo nghề đối với người học nếu thuộc đối tượng được hưởng chính sách theo quy định của pháp luật.
Trường hợp không thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền chính sách hỗ trợ đào tạo nghề.
Việc tổ chức đào tạo nghề cũng được quy định theo hướng gắn với nhu cầu thực tế. Theo điểm a khoản 4 Điều 9, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm rà soát, lập danh sách người có nhu cầu học nghề; phối hợp với cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp để tổ chức đào tạo nghề. Nội dung và hình thức đào tạo được thực hiện trên cơ sở nhu cầu của người học, yêu cầu của thị trường lao động và điều kiện thực tế của địa phương.
Đáng chú ý, theo điểm b khoản 4 Điều 9, việc đào tạo nghề được ưu tiên bố trí đối với người chấp hành xong hình phạt tù thuộc diện được ưu tiên tư vấn, giới thiệu việc làm theo quy định tại khoản 3 Điều 9.
Được xem xét vay vốn để tạo việc làm
Bên cạnh chính sách đào tạo nghề, người chấp hành xong hình phạt tù còn được xem xét vay vốn để tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm hoặc đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 247/2026/NĐ-CP.
Tuy nhiên, việc vay vốn không được thực hiện mặc nhiên. Người có nhu cầu vay phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về việc làm, tín dụng chính sách và các quy định pháp luật có liên quan.
Căn cứ điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tham mưu việc sử dụng các nguồn tín dụng hợp pháp để cho vay ưu đãi đối với người chấp hành xong hình phạt tù nhằm phát triển sản xuất, tạo việc làm.
Để người có nhu cầu có thể tiếp cận nguồn vốn, khoản 5 Điều 9 Nghị định 247/2026/NĐ-CP quy định Công an cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan, tổ chức có liên quan phối hợp rà soát, xác định đối tượng và hướng dẫn lập hồ sơ vay vốn để đào tạo nghề, sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, khi người chấp hành xong hình phạt tù đến Công an cấp xã trình diện, theo điểm c khoản 4 Điều 13 Nghị định 247/2026/NĐ-CP, người này được tư vấn, hỗ trợ thông tin về tạo việc làm, vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội; đồng thời được giới thiệu, mời tham gia các mô hình tái hòa nhập cộng đồng hiện có tại địa phương.
Được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí
Theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 247/2026/NĐ-CP, người chấp hành xong hình phạt tù được tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ tạo việc làm theo quy định của pháp luật về việc làm.
Căn cứ nhu cầu của người chấp hành xong hình phạt tù và yêu cầu của thị trường lao động, khoản 3 Điều 9 quy định Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo, phối hợp với tổ chức dịch vụ việc làm công và các cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí; tiếp nhận, cập nhật thông tin và hỗ trợ kết nối việc làm phù hợp với khả năng, nhu cầu của người lao động cũng như điều kiện thực tế của thị trường lao động.
Nghị định cũng xác định một số nhóm được ưu tiên tư vấn, giới thiệu việc làm, gồm người không có nguồn thu nhập ổn định, người thiếu kỹ năng nghề, người có nguy cơ tái phạm cao hoặc người thuộc Nhóm B, Nhóm C theo kết quả đánh giá, phân loại quy định tại Điều 13 Nghị định 247/2026/NĐ-CP.
Đối với những trường hợp này, hoạt động hỗ trợ được tập trung vào việc kết nối với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh phù hợp, qua đó tạo điều kiện để người chấp hành xong hình phạt tù có việc làm và từng bước ổn định cuộc sống.
Cơ quan nào có trách nhiệm hỗ trợ?
Nghị định 247/2026/NĐ-CP không chỉ quy định quyền và chính sách hỗ trợ đối với người chấp hành xong hình phạt tù mà còn xác định trách nhiệm của các cơ quan, chính quyền địa phương trong quá trình triển khai.
Theo khoản 7 Điều 22, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí ngân sách theo quy định của pháp luật; quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, vay vốn, tạo việc làm và các chính sách hỗ trợ phù hợp khác, nhằm tạo điều kiện cho người chấp hành xong hình phạt tù học nghề, tìm việc làm và hòa nhập cộng đồng.
Theo khoản 4 Điều 23, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tạo điều kiện, vận động cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia hỗ trợ việc làm, học nghề cho người chấp hành xong hình phạt tù.
Bên cạnh đó, khoản 7 Điều 25 quy định Công an cấp xã phối hợp với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp vận động hỗ trợ việc làm, học nghề, vay vốn; tạo điều kiện để người chấp hành xong hình phạt tù ổn định cuộc sống.

