NGHỊ ĐỊNH 287/2026/NĐ-CP: NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ TIỀN BẢN QUYỀN VÀ CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN LƯU Ý

Bởi Phương Ánh
41 lượt xem

NGHỊ ĐỊNH 287/2026/NĐ-CP: NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ TIỀN BẢN QUYỀN VÀ CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN LƯU Ý

Nghị định 287/2026/NĐ-CP ngày 17/7/2026 của Chính phủ quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/9/2026. Đây là văn bản có ý nghĩa quan trọng trong việc cụ thể hóa cơ chế trả tiền bản quyền đối với các tác phẩm được sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước cũng như việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý.

Không chỉ thay đổi cách xác định và chi trả tiền bản quyền, Nghị định còn đặt ra những yêu cầu đáng chú ý đối với cơ quan nhà nước, cơ quan báo chí, đơn vị xuất bản, tổ chức văn hóa – nghệ thuật và các cá nhân trực tiếp sáng tạo tác phẩm.

  1. Nghị định 287/2026/NĐ-CP điều chỉnh những vấn đề gì?

Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung được giao tại Luật Sở hữu trí tuệ liên quan đến tiền bản quyền trong 06 lĩnh vực gồm: điện ảnh; mỹ thuật; nhiếp ảnh; nghệ thuật biểu diễn; báo chí; xuất bản.

Trọng tâm của Nghị định là hai nhóm quan hệ: tiền bản quyền trả cho việc sáng tạo tác phẩm bằng nguồn ngân sách nhà nước; và tiền bản quyền khi Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan và cho phép tổ chức, cá nhân khác khai thác, sử dụng.

Đối tượng áp dụng bao gồm tổ chức, cá nhân sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước; tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý; các cơ quan đại diện chủ sở hữu, đại diện quản lý và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

  1. Điểm đáng chú ý: tiền bản quyền không chỉ là khoản tiền trả một lần

Theo Nghị định, tiền bản quyền có thể được thanh toán một lần cho toàn bộ việc khai thác, sử dụng; theo từng lần khai thác, sử dụng; định kỳ theo tháng, quý hoặc năm; hoặc theo phương thức khác do các bên thỏa thuận phù hợp với tính chất khai thác, sử dụng và pháp luật có liên quan.

Đối với trường hợp quyền tác giả, quyền liên quan thuộc Nhà nước được khai thác và cơ quan đại diện chủ sở hữu thu được lợi nhuận, tác giả hoặc chức danh sáng tạo còn có thể được hưởng tiền bản quyền khuyến khích theo thỏa thuận trên cơ sở mức độ đóng góp, nhưng tổng số không quá 10% lợi nhuận thu được.

Đây là cơ chế có ý nghĩa thực tiễn bởi nó tạo mối liên hệ giữa giá trị sáng tạo ban đầu và hiệu quả khai thác tác phẩm về sau.

  1. Tiền bản quyền khuyến khích: cơ chế đáng chú ý đối với người sáng tạo

Nghị định dành một cơ chế riêng cho tiền bản quyền khuyến khích. Các trường hợp có thể được hưởng khoản tiền này bao gồm tác phẩm thuộc đề tài về trẻ em, dân tộc thiểu số; nghệ thuật truyền thống có xác định tác giả; giao hưởng, opera, kịch múa, xiếc; phóng sự điều tra; tác phẩm dành cho người khuyết tật.

Ngoài ra, một số trường hợp sáng tạo bằng tiếng nước ngoài, tiếng dân tộc thiểu số hoặc sáng tạo trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm cũng được xem xét tiền bản quyền khuyến khích.

Điều này thể hiện chính sách ưu tiên đối với những loại hình sáng tạo có tính đặc thù, có giá trị xã hội hoặc có điều kiện sáng tạo khó khăn hơn thông thường.

  1. Quy định mới về tiền bản quyền trong lĩnh vực báo chí

Đây là một trong những nội dung có tác động trực tiếp đến hoạt động của các cơ quan báo chí, nhà báo và tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm báo chí.

Đối với tác phẩm báo chí in và báo chí điện tử được sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước, tiền bản quyền được thực hiện theo quy định về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu. Đối với phát thanh, truyền hình, tiền bản quyền được chi trả trong đơn giá sản xuất tác phẩm báo chí đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với nội dung sản xuất theo nhiệm vụ đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc đấu thầu sử dụng ngân sách nhà nước.

Đối với việc khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí in, báo chí điện tử, các bên thỏa thuận dựa trên nhiều tiêu chí như tần suất, thời lượng, vị trí sử dụng, mục đích, phạm vi, hình thức, phương tiện khai thác, doanh thu. Mức tiền bản quyền không được thấp hơn 20% tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm.

Đối với tác phẩm báo chí mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, nếu khai thác nhằm mục tiêu tuyên truyền, không nhằm mục đích thương mại và dành cho trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền. Tuy nhiên, vẫn phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

  1. Quy định về tiền bản quyền đối với phát thanh, truyền hình

Đối với phát thanh và truyền hình, Nghị định xây dựng khung tiền bản quyền dựa trên tỷ lệ phần trăm chi phí sản xuất. Các thể loại được phân nhóm và áp dụng tỷ lệ tương ứng với mức chi phí sản xuất.

Mức chi phí sản xuất Tỷ lệ áp dụng
Đến 10 triệu đồng 10%
Từ trên 10 đến 100 triệu đồng 8%
Trên 100 triệu đồng 5%

 

Các nhóm thể loại được áp dụng khung gồm tin/bài thời sự, phóng sự, ký sự, phim tài liệu, chương trình tạp chí, tọa đàm, giao lưu, tư vấn, trực tuyến, ca múa nhạc, chương trình khoa giáo và thiếu nhi.

Trường hợp khai thác, sử dụng tác phẩm phát thanh, truyền hình mà không có nguồn thu từ tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào thì số tiền bản quyền được chi trả bằng 30% khung chi trả. Trường hợp khai thác, sử dụng từ lần thứ hai trở đi, tiền bản quyền được xác định theo thỏa thuận trên cơ sở tần suất, thời lượng, khung giờ, phương tiện, nền tảng, doanh thu và các tiêu chí liên quan.

  1. Tiền bản quyền trong lĩnh vực xuất bản

Đối với hoạt động xuất bản, Nghị định đưa ra khung tỷ lệ khá cụ thể tùy theo từng loại xuất bản phẩm. Một số mức đáng chú ý như sau:

STT Loại tác phẩm Tỷ lệ tiền bản quyền
1 Văn xuôi 8% – 17%
2 Sách nhạc 10% – 17%
3 Thơ 12% – 17%
4 Kịch bản sân khấu, điện ảnh 12% – 17%
5 Sách tranh, sách ảnh 8% – 12%
6 Truyện tranh 4% – 10%
7 Từ điển, sách tra cứu 12% – 18%
8 Sách nghiên cứu lý luận 12% – 18%
9 Sách khoa học – công nghệ, kỹ thuật, kinh tế 10% – 17%
10 Sách phổ biến kiến thức 8% – 12%
11 Giáo trình 8% – 16%
12 Sách giáo khoa 0,1% – 10%
13 Sách bài tập, tham khảo phổ thông 2% – 12%
14 Bản đồ 7% – 23%

 

Đối với xuất bản phẩm in, tiền bản quyền được tính theo công thức: Tỷ lệ phần trăm nhân với giá thành sản xuất nhân với số lượng in. Giá thành sản xuất là tổng chi phí sản xuất của xuất bản phẩm in, bao gồm chi phí xuất bản, chi phí in và chi phí phát hành. Số lượng in là số lượng ghi trong hợp đồng và được in thông tin trên sách.

Đối với xuất bản phẩm điện tử, tiền bản quyền được tính theo công thức: Tỷ lệ phần trăm nhân với giá thành sản xuất nhân với số năm sử dụng. Giá thành sản xuất không bao gồm chi phí phát hành, đăng tải trên các nền tảng công nghệ và hệ thống Cổng thông tin điện tử.

  1. Quyền lợi của tác giả ngoài tiền bản quyền

Đối với xuất bản phẩm in, ngoài tiền bản quyền, tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả được nhận từ 05 đến 10 bản. Đối với xuất bản phẩm điện tử, tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả được quyền truy cập, sử dụng xuất bản phẩm theo thỏa thuận trên các nền tảng, thiết bị điện tử.

Các xuất bản phẩm thuộc trường hợp được hưởng tiền bản quyền khuyến khích còn được hưởng thêm từ 10% đến 30% tỷ lệ tiền bản quyền của xuất bản phẩm đó.

  1. Khai thác tác phẩm thuộc sở hữu của Nhà nước: có phải lúc nào cũng phải trả tiền?

Không phải trong mọi trường hợp. Việc khai thác, sử dụng tác phẩm trong hoạt động xuất bản mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý được thực hiện theo thỏa thuận bằng văn bản và áp dụng khung, phương thức tính tương ứng.

Trường hợp khai thác tác phẩm để phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển văn hóa đọc, không nhằm mục đích thương mại thì không phải trả tiền bản quyền. Dù được miễn tiền, bên sử dụng vẫn phải thông báo bằng văn bản với cơ quan đại diện chủ sở hữu và phải thông tin về tên tác giả, nguồn gốc, xuất xứ tác phẩm.

  1. Những vấn đề cần lưu ý khi ký hợp đồng về quyền tác giả

Khi ký hợp đồng sáng tạo, khai thác hoặc sử dụng tác phẩm, các bên cần xác định rõ đối tượng quyền được khai thác; phạm vi và phương thức sử dụng; thời hạn sử dụng; phương thức và thời điểm thanh toán; cơ chế xử lý khi tác phẩm được khai thác nhiều lần hoặc trên nhiều nền tảng.

Đặc biệt với xuất bản phẩm điện tử, số năm sử dụng là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến tiền bản quyền. Với báo chí và nội dung số, cần xác định rõ việc sử dụng trên website, nền tảng số, mạng xã hội, truyền hình, phát thanh hoặc các phương tiện khác.

  1. Tiền bản quyền cần được phân biệt với quyền nhân thân của tác giả

Việc trả tiền bản quyền không đồng nghĩa với việc bên sử dụng được toàn quyền đối với tác phẩm. Ngay cả trong những trường hợp được miễn trả tiền bản quyền, bên sử dụng vẫn phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

Khi giải quyết quan hệ pháp luật về quyền tác giả, cần phân biệt quyền tài sản, quyền nhân thân, quyền khai thác, sử dụng, quyền cho phép người khác khai thác, sử dụng và quyền nhận tiền bản quyền.

  1. Quy định chuyển tiếp và thời điểm áp dụng

Nghị định 287/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/9/2026. Kể từ ngày này, Nghị định 18/2014/NĐ-CP về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản và Nghị định 21/2015/NĐ-CP về nhuận bút, thù lao đối với tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác hết hiệu lực.

Các trường hợp sáng tạo theo phương thức đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc đấu thầu sử dụng ngân sách nhà nước xảy ra trước thời điểm Nghị định có hiệu lực tiếp tục thực hiện theo quy định có hiệu lực tại thời điểm đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc đấu thầu.

Đối với việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan xảy ra trước thời điểm Nghị định có hiệu lực, tiếp tục thực hiện theo pháp luật có hiệu lực tại thời điểm khai thác, sử dụng hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng đã giao kết giữa các bên.

  1. Doanh nghiệp, tổ chức cần chuẩn bị gì trước ngày 01/9/2026?
  • Rà soát các hợp đồng quyền tác giả, quyền liên quan đang thực hiện, xác định thời điểm ký kết, phạm vi sử dụng và thời hạn khai thác.
  • Chuẩn hóa điều khoản tiền bản quyền, xác định rõ căn cứ tính tiền, tỷ lệ, doanh thu hoặc chi phí sản xuất, số lượng bản in, số năm sử dụng và phương thức thanh toán.
  • Xây dựng cơ chế quản lý tác phẩm và hồ sơ quyền, bao gồm thông tin về tác giả, chủ sở hữu, nguồn gốc, phạm vi quyền và thời hạn sử dụng.
  • Rà soát hoạt động khai thác tác phẩm trên môi trường số, đặc biệt khi một tác phẩm được sử dụng đồng thời trên nhiều nền tảng.
  • Lưu giữ đầy đủ chứng từ và căn cứ tính tiền bản quyền, nhất là đối với các trường hợp sử dụng ngân sách nhà nước, giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu.
  1. Vai trò của hợp đồng trong việc hạn chế tranh chấp tiền bản quyền

Nghị định đưa ra các khung và nguyên tắc quan trọng nhưng trong nhiều trường hợp vẫn để các bên thỏa thuận cụ thể. Điều này tạo sự linh hoạt nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc soạn thảo hợp đồng.

Nếu hợp đồng không xác định rõ phạm vi khai thác, thời hạn sử dụng, nền tảng sử dụng, phương thức thanh toán hoặc cơ chế tính tiền khi khai thác lại, tranh chấp rất dễ phát sinh.

Do đó, hợp đồng quyền tác giả nên được xây dựng theo hướng xác định cụ thể từng quyền được chuyển giao hoặc cho phép khai thác, thay vì sử dụng các điều khoản chung chung như “toàn quyền sử dụng tác phẩm”.

  1. Kết luận

Nghị định 287/2026/NĐ-CP đánh dấu bước hoàn thiện đáng chú ý trong cơ chế quản lý và chi trả tiền bản quyền đối với các tác phẩm được sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước cũng như tác phẩm mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý.

Điểm đáng chú ý của Nghị định là không chỉ đưa ra các khung tiền bản quyền mà còn quy định phương thức tính, phương thức thanh toán, tiền bản quyền khuyến khích, cơ chế khai thác lại tác phẩm và các trường hợp được miễn trả tiền bản quyền.

Đối với tác giả, đây là cơ sở quan trọng để bảo vệ và xác định quyền lợi kinh tế từ hoạt động sáng tạo. Đối với cơ quan báo chí, nhà xuất bản, đơn vị nghệ thuật và các tổ chức khai thác nội dung, đây là thời điểm cần chủ động rà soát quy trình, hợp đồng và cơ chế quản lý quyền tác giả.

Nghị định 287/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/9/2026. Do đó, việc chuẩn bị trước thời điểm này là cần thiết để hạn chế tranh chấp và bảo đảm việc chi trả, khai thác tiền bản quyền đúng quy định pháp luật.

 

LUẬT MINH NGUYÊN – GIẢI PHÁP PHÁP LÝ HIỆU QUẢ
Quý khách vui lòng liên hệ để được tư vấn:
☎ Điện thoại (Zalo): 0941.776.999 hoặc 0888.695.000
✉ Email: bealaw01@gmail.com
🏢 Địa chỉ: Số 58, đường 01, Khu Sunrise C, KĐT The Manor Central Park, Thanh Liệt, Thanh Trì, Thành phố Hà Nội.

You may also like

Với phương châm “Đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu”, chúng tôi luôn nỗ lực để đem đến “Giải pháp pháp lý hiệu quả” cho quý khách, là chỗ dựa vững chắc cho khách hàng

Copyright @2021  All Right Reserved – Designed and Developed by Meow