Thỏa thuận phạt vi phạm khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có đúng luật không?

Bởi Phương Ánh
2 lượt xem

Theo quy định tại Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 về phạt vi phạm, đó là khoản tiền mà bên vi phạm phải trả cho bên giao kết còn lại khi thực hiện không đúng theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Tuy nhiên, pháp luật lao động chấp nhận các trường hợp người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi thuộc một trong các trường hợp tại Điều 35 Bộ luật Lao động 2019.

Trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì buộc phải thực hiện nghĩa vụ tại Điều 40 Bộ luật Lao động 2019. Trong đó, khi người lao động có lỗi và gây thiệt hại thực tế thì buộc phải bồi thường theo luật định.

Đồng thời, pháp luật lao động không quy định về quyền được phạt tiền khi chấm dứt hợp đồng lao động giữa các bên. Tuy nhiên, quy định phạt tiền là một trong những hành vi bị nghiêm cấm khi thực hiện xử lý kỷ luật lao động theo Điều 127 Bộ luật Lao động 2019.

Như vậy, dù các bên trong quan hệ lao động tự nguyện thỏa thuận về phạt vi phạm trong hợp đồng thì điều khoản đó đương nhiên vô hiệu theo Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015 do trái với quy định pháp luật chuyên ngành về lao động như trên.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng quy định

1. Phạt vi phạm trong hợp đồng là gì?

Tại Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Thỏa thuận phạt vi phạm như sau:

Thỏa thuận phạt vi phạm

Phạm vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm có nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.

Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.

Như vậy, thỏa thuận phạt vi phạm theo luật định như trên thực chất có mục đích là buộc các bên giao kết tuân thủ đúng nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Đồng thời buộc bên sai phạm phải chịu trách nhiệm đền bù nếu phát sinh lỗi.

Tuy nhiên, chỉ khi có thỏa thuận về việc phạt vi phạm trong hợp đồng đã giao kết thì các bên mới được áp dụng phạt vi phạm, trừ các trường hợp được miễn trách nhiệm cụ thể theo quy định pháp luật.

2. Người lao động có được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không?

Căn cứ Điều 35 Bộ luật Lao động 2019 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau:

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Như vậy, người lao động hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi thuộc một trong các trường hợp theo luật định như trên.

Tại Điều 39 Bộ luật Lao động 2019 về việc Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật quy định như sau:

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 35,36 và 37 của Bộ luật này.

Đồng thời người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật có nghĩa vụ sau theo Điều 40 Bộ luật Lao động 2019:

Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Không được trợ cấp thôi việc.

Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Theo đó, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì thực hiện các nghĩa vụ theo luật định nêu trên. Trong đó, không có nghĩa vụ thực hiện trả tiền thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng.

LUẬT MINH NGUYÊN – GIẢI PHÁP PHÁP LÝ HIỆU QUẢ
Quý khách vui lòng liên hệ để được tư vấn:
☎ Điện thoại (Zalo): 0941.776.999 hoặc 0888.695.000
✉ Email: bealaw01@gmail.com
🏢 Địa chỉ: Số 58, đường 01, Khu Sunrise C, KĐT The Manor Central Park, Thanh Liệt, Thanh Trì, Thành phố Hà Nội.

You may also like

Với phương châm “Đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu”, chúng tôi luôn nỗ lực để đem đến “Giải pháp pháp lý hiệu quả” cho quý khách, là chỗ dựa vững chắc cho khách hàng

Copyright @2021  All Right Reserved – Designed and Developed by Meow