1. Tiền thưởng của Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên trong doanh nghiệp nhà nước được xác định như thế nào?
Theo Điều 8 Nghị định 248/2025/NĐ-CP quy định tiền thưởng của Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên trong doanh nghiệp nhà nước được xác định như sau:
Tiền thưởng
- Tiền thưởng của Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên được xác định trong quỹ tiền thưởng trích từ quỹ khen thưởng, phúc lợi theo quy định tại Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, quy định của Chính phủ về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và quy chế thưởng của doanh nghiệp.
- Tiền thưởng cụ thể hằng năm của từng Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên tối đa không vượt quá số tháng tiền lương của doanh nghiệp được trích để lập quỹ khen thưởng, phúc lợi quy định tại khoản 1 Điều này nhân với tỷ lệ phân bổ giữa quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi theo quy định hoặc quy chế của doanh nghiệp và nhân với mức tiền lương bình quân thực hiện theo tháng được hưởng tại doanh nghiệp của từng Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên.
Theo đó, tiền thưởng của Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên được xác định trong quỹ tiền thưởng trích từ quỹ khen thưởng, phúc lợi theo quy định tại Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp 2025, quy định của Chính phủ về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và quy chế thưởng của doanh nghiệp.
Tiền thưởng cụ thể hằng năm của từng Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên tối đa không vượt quá số tháng tiền lương của doanh nghiệp được trích để lập quỹ khen thưởng, phúc lợi nêu trên nhân với tỷ lệ phân bổ giữa quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi theo quy định hoặc quy chế của doanh nghiệp và nhân với mức tiền lương bình quân thực hiện theo tháng được hưởng tại doanh nghiệp của từng Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên.
2. Mức thù lao tối đa của Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên không chuyên trách được xác định ra sao?
Căn cứ Điều 6 Nghị định 248/2025/NĐ-CP quy định mức thù lao tối đa của Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên không chuyên trách như sau:
Mức thù lao tối đa
Mức thù lao tối đa của Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên không chuyên trách được xác định theo thời gian thực tế làm việc nhưng không được vượt quá 20% mức tiền lương tương ứng của Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên chuyên trách.
Theo đó, mức thù lao tối đa của Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên không chuyên trách được xác định theo thời gian thực tế làm việc nhưng không được vượt quá 20% mức tiền lương tương ứng của Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên chuyên trách.
3. Nguyên tắc xác định tiền lương, thù lao, tiền thưởng của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là gì?
Căn cứ Điều 24 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp 2025 quy định nguyên tắc xác định tiền lương, thù lao, tiền thưởng của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ như sau:
Tiền lương, thù lao, tiền thưởng
- Nguyên tắc xác định:
- a) Tuân thủ quy định của pháp luật về lao động;
- b) Căn cứ vào thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
- c) Căn cứ vào hiệu quả sản xuất, kinh doanh, phù hợp với thị trường, ngành, nghề, tính chất hoạt động của doanh nghiệp;
- d) Căn cứ vào năng suất lao động, hiệu quả công việc của người lao động, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, Kiểm soát viên.
- Tiền thưởng cho người lao động, người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp được trích từ lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.
- Người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, Kiểm soát viên, Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác theo Điều lệ công ty hưởng lương trong quỹ lương chung của doanh nghiệp.
- Căn cứ nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều này, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định tiền lương, thù lao, tiền thưởng và quyền lợi khác của người lao động, các chức danh quản lý của doanh nghiệp.
- Chính phủ quy định về tiền lương, thù lao, tiền thưởng của người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, Kiểm soát viên.
Theo đó, nguyên tắc xác định tiền lương, thù lao, tiền thưởng của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được quy định như sau:
(1) Tuân thủ quy định của pháp luật về lao động;
(2) Căn cứ vào thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
(3) Căn cứ vào hiệu quả sản xuất, kinh doanh, phù hợp với thị trường, ngành, nghề, tính chất hoạt động của doanh nghiệp;
(4) Căn cứ vào năng suất lao động, hiệu quả công việc của người lao động, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, Kiểm soát viên.
Bên cạnh đó, căn cứ các nguyên tắc trên, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định tiền lương, thù lao, tiền thưởng và quyền lợi khác của người lao động, các chức danh quản lý của doanh nghiệp.
Lưu ý: Tiền thưởng cho người lao động, người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp được trích từ lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.


