LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ NĂM 2026: NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI ĐÁNG CHÚ Ý TỪ NGÀY 01/3/2027
Ngày 24/8/2026, Quốc hội khóa XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất đã thông qua Luật số 16/2026/QH16 về Hòa giải ở cơ sở. Luật được ban hành nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động hòa giải trong cộng đồng dân cư, nâng cao hiệu quả giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cơ sở, góp phần giữ gìn đoàn kết và hạn chế phát sinh các vụ việc phải giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 gồm 05 chương, 35 điều, quy định về nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở; hòa giải viên, tổ hòa giải, người được mời tham gia hòa giải, các bên trong hòa giải; hoạt động hòa giải ở cơ sở và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan.
Đáng chú ý, Luật số 16/2026/QH16 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027 và thay thế Luật Hòa giải ở cơ sở số 35/2013/QH13, trừ trường hợp được quy định chuyển tiếp tại Điều 35.
- Phạm vi và nguyên tắc hòa giải ở cơ sở
Theo Luật mới, hòa giải ở cơ sở được hiểu là việc hòa giải viên và người được mời tham gia hòa giải, nếu có, hỗ trợ, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định.
“Cơ sở” được xác định là thôn, xóm, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc; tổ dân phố, khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu. Các bên trong hòa giải có thể là cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ gia đình hoặc tổ chức có mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật thuộc phạm vi hòa giải.
Luật đồng thời xác định rõ những vụ việc không thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở. Theo đó, không tiến hành hòa giải đối với mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội; vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử lý vi phạm hành chính, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; và các trường hợp khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật.
Một nguyên tắc quan trọng được Luật nhấn mạnh là tôn trọng sự tự nguyện của các bên. Hoạt động hòa giải không được mang tính bắt buộc hoặc áp đặt, đồng thời phải bảo đảm tính khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình và tuân thủ pháp luật.
Bên cạnh đó, hoạt động hòa giải phải tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của các bên; phù hợp với đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp; quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người cao tuổi và người dân tộc thiểu số.
Luật cũng nghiêm cấm việc lợi dụng hòa giải ở cơ sở để ngăn cản các bên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc để trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính, xử lý hình sự, trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.
- Tăng cường bảo mật thông tin và ứng dụng công nghệ trong hòa giải
Một điểm đáng chú ý của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 là quy định cụ thể hơn về bảo mật thông tin.
Hòa giải viên, các bên, người được mời tham gia hòa giải, người phiên dịch và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải giữ bí mật nhà nước, bí mật về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh của các bên và các thông tin khác theo quy định pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
Trong quá trình hòa giải, việc ghi chép chỉ được thực hiện nhằm phục vụ hoạt động hòa giải và phải bảo mật nội dung đã ghi chép. Việc ghi âm, ghi hình trong quá trình hòa giải không được thực hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
Đồng thời, Luật khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và trang bị phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác hòa giải ở cơ sở.
Đặc biệt, hoạt động hòa giải có thể được tiến hành trực tiếp, trực tuyến hoặc kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến. Quy định này tạo cơ sở pháp lý để hoạt động hòa giải thích ứng với điều kiện thực tế, thuận tiện hơn cho các bên và phù hợp với xu hướng ứng dụng công nghệ trong hoạt động xã hội.
- Tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên
Theo Luật số 16/2026/QH16, hòa giải viên phải là công dân Việt Nam cư trú tại cơ sở, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong cộng đồng dân cư, có khả năng thuyết phục, vận động Nhân dân và có hiểu biết pháp luật.
Người được lựa chọn làm hòa giải viên không được đang trong thời hạn xử lý kỷ luật hoặc thi hành quyết định xử lý kỷ luật; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích.
Hòa giải viên có nhiều quyền đáng chú ý như thực hiện hoạt động hòa giải; đề nghị các bên cung cấp thông tin, tài liệu liên quan; được bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật, nghiệp vụ và kỹ năng hòa giải; được hưởng thù lao theo vụ, việc khi thực hiện hòa giải; được khen thưởng và được hỗ trợ, tạo điều kiện để khắc phục hậu quả nếu gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong quá trình thực hiện hoạt động hòa giải.
Trong trường hợp nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng hoặc gây mất trật tự công cộng, hòa giải viên có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã bảo đảm an ninh, trật tự.
Song song với quyền, hòa giải viên phải tuân thủ các nguyên tắc hòa giải, tiến hành hòa giải khi có căn cứ, từ chối hòa giải nếu có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc có lý do khiến không bảo đảm được tính khách quan, công bằng. Hòa giải viên cũng phải kịp thời báo cáo khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hành chính hoặc pháp luật hình sự.
- Tổ hòa giải phải có từ 03 hòa giải viên trở lên
Luật mới quy định tổ hòa giải gồm Tổ trưởng và các hòa giải viên. Mỗi tổ hòa giải có từ 03 hòa giải viên trở lên và phải có hòa giải viên nữ.
Đối với địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, tổ hòa giải phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số phù hợp với đặc điểm dân cư của địa phương.
Tổ trưởng tổ hòa giải do các hòa giải viên bầu trong số các hòa giải viên để phụ trách tổ. Người được đề nghị công nhận Tổ trưởng phải đạt trên 50% tổng số hòa giải viên của tổ đồng ý và là người có số phiếu bầu cao nhất.
Tổ hòa giải có trách nhiệm tổ chức thực hiện hòa giải, trao đổi kinh nghiệm, thảo luận giải pháp đối với các vụ việc phức tạp và phối hợp với Ban công tác Mặt trận, các tổ chức đoàn thể, Tổ bảo vệ an ninh, trật tự, các tổ hòa giải khác và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Trong những vụ việc cần thiết, hòa giải viên có thể mời người khác tham gia hỗ trợ. Những người được mời có thể là già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc tôn giáo; người có uy tín trong dòng họ, nơi sinh sống, nơi làm việc; người biết rõ vụ việc; người có trình độ pháp lý, kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn, kiến thức xã hội hoặc đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan.
Người được mời có thể tham gia dưới hình thức tư vấn, hỗ trợ kiến thức, phương thức, kỹ năng hòa giải cho hòa giải viên hoặc trực tiếp tham gia hòa giải cùng hòa giải viên.
Trường hợp trực tiếp tham gia hòa giải, việc mời người tham gia phải có sự đồng ý của các bên hoặc các bên thống nhất mời. Người được mời không thay thế tư cách chủ trì của hòa giải viên trong quá trình hòa giải.
- Quyền của các bên trong hòa giải được quy định cụ thể hơn
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 ghi nhận nhiều quyền của các bên nhằm bảo đảm tính tự nguyện và chủ động trong quá trình hòa giải.
Các bên có quyền lựa chọn, đề xuất hoặc đề nghị thay đổi hòa giải viên, người được mời tham gia hòa giải, người phiên dịch; lựa chọn hình thức, địa điểm và thời gian hòa giải; đồng ý hoặc từ chối hòa giải; yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hòa giải.
Các bên cũng có quyền yêu cầu việc hòa giải được tiến hành công khai hoặc không công khai; được bày tỏ ý chí và quyết định về nội dung hòa giải; yêu cầu hòa giải viên lập văn bản về kết quả hòa giải.
Đặc biệt, khi hòa giải thành, các bên có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Bên cạnh quyền, các bên có nghĩa vụ trình bày đúng sự thật, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan; tôn trọng hòa giải viên và các bên liên quan; không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trong quá trình hòa giải và thực hiện thỏa thuận hòa giải thành.
- Hòa giải được tiến hành nhanh chóng, linh hoạt
Theo quy định mới, khi phát sinh căn cứ tiến hành hòa giải, nếu các bên không lựa chọn hòa giải viên thì trong thời hạn 02 ngày, Tổ trưởng tổ hòa giải phân công hòa giải viên thực hiện việc hòa giải.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày được phân công hoặc tiếp nhận vụ, việc, hòa giải viên bắt đầu tiến hành hòa giải, trừ trường hợp cần thiết phải hòa giải ngay hoặc các bên có thỏa thuận khác về thời gian.
Địa điểm hòa giải có thể là nơi xảy ra vụ việc hoặc địa điểm khác do các bên hoặc hòa giải viên lựa chọn, miễn bảo đảm thuận lợi cho các bên.
Đây là những quy định thể hiện rõ định hướng tổ chức hoạt động hòa giải theo hướng linh hoạt, kịp thời và phù hợp với từng vụ việc cụ thể.
- Kết quả hòa giải và việc công nhận hòa giải thành
Kết quả hòa giải có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Trường hợp được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử thì được coi là bằng văn bản.
Khi một trong các bên đồng ý, hòa giải viên lập văn bản về kết quả hòa giải. Văn bản này phải thể hiện các nội dung chính như căn cứ tiến hành hòa giải, thành phần tham gia, nội dung vụ việc, diễn biến quá trình hòa giải và kết quả hòa giải.
Nếu hòa giải thành, văn bản phải ghi rõ thỏa thuận đạt được, giải pháp thực hiện, quyền và nghĩa vụ của các bên, phương thức và thời hạn thực hiện thỏa thuận.
Các bên có trách nhiệm thực hiện thỏa thuận hòa giải thành. Trong trường hợp một hoặc các bên yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải thành thì thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Một điểm đáng chú ý khác là sau khi hòa giải thành, hòa giải viên vẫn có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận do mình trực tiếp hòa giải và kịp thời thông báo những vấn đề phát sinh cho Tổ trưởng tổ hòa giải.
- Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền
Luật quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở trên phạm vi cả nước.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở tại địa phương, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết, khen thưởng và báo cáo về công tác hòa giải.
Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở tại địa phương; tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở và lồng ghép công tác này trong xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước, vận động tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật, giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở và phối hợp kiểm tra, theo dõi, sơ kết, tổng kết, khen thưởng.
- Hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp
Luật số 16/2026/QH16 có hiệu lực từ ngày 01/3/2027. Kể từ thời điểm này, Luật Hòa giải ở cơ sở số 35/2013/QH13 hết hiệu lực, trừ trường hợp được quy định tại Điều 35 của Luật mới.
Các tổ hòa giải, hòa giải viên đã được thành lập, công nhận theo Luật số 35/2013/QH13 được tiếp tục hoạt động mà không phải thành lập, công nhận lại theo Luật mới.
Đối với các vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở nhưng chưa kết thúc hòa giải trước ngày 01/3/2027 thì tiếp tục được hòa giải theo quy định của Luật số 35/2013/QH13.
