LUẬT CÔNG NGHỆ CAO 2025: NHIỀU CHÍNH SÁCH MỚI THÚC ĐẨY CÔNG NGHỆ CAO VÀ CÔNG NGHỆ CHIẾN LƯỢC
Ngày 10/12/2025, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15, tạo khuôn khổ pháp lý mới cho hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược và các hoạt động liên quan đến nghiên cứu, phát triển, ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa công nghệ. Luật đồng thời bổ sung nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược và phát triển hệ sinh thái công nghệ cao.
Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12, trừ một số trường hợp chuyển tiếp được quy định cụ thể.
1. Bổ sung khung pháp lý về công nghệ cao và công nghệ chiến lược
Theo Luật mới, công nghệ cao được xác định là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tích hợp các thành tựu khoa học tiên tiến, có tính đột phá, tạo ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng vượt trội, giá trị gia tăng cao và thân thiện với môi trường.
Trong khi đó, công nghệ chiến lược là công nghệ có tính đột phá và lan tỏa, được Nhà nước xác định tập trung đầu tư phát triển nhằm tăng cường năng lực tự chủ công nghệ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
Luật cũng làm rõ khái niệm công nghệ lõi, hoạt động công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ chiến lược.
Đáng chú ý, Nhà nước xác định phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược là một trong những đột phá chiến lược để phát triển nhanh, bền vững kinh tế – xã hội, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Các hoạt động này được định hướng áp dụng các mức ưu đãi cao theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai và các chính sách có liên quan.
2. Xác định tiêu chí đối với công nghệ và sản phẩm được ưu tiên
Luật quy định tiêu chí xác định công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và công nghệ chiến lược. Trong đó, công nghệ được ưu tiên phải có vai trò quan trọng đối với các mục tiêu phát triển quốc gia, phù hợp với định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời có khả năng nghiên cứu, làm chủ, cải tiến hoặc nội địa hóa trong nước.
Đối với công nghệ chiến lược, ngoài các tiêu chí trên còn phải đáp ứng một hoặc một số tiêu chí như có tác động đột phá đến phát triển kinh tế – xã hội, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia lâu dài, có khả năng hình thành phương thức sản xuất, ngành công nghiệp hoặc chuỗi giá trị mới.
Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục công nghệ chiến lược sẽ được rà soát, đánh giá định kỳ và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành, cập nhật phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội.
Tương tự, Luật quy định tiêu chí đối với sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển và sản phẩm công nghệ chiến lược. Sản phẩm công nghệ cao phải được tạo ra từ công nghệ thuộc danh mục ưu tiên, có tỷ trọng giá trị gia tăng cao và có khả năng xuất khẩu hoặc thay thế sản phẩm nhập khẩu.
3. Nhiều chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển công nghệ
Luật Công nghệ cao 2025 dành một chương quy định về nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược.
Các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao được ưu tiên gồm nghiên cứu sáng tạo công nghệ cao, công nghệ lõi; nghiên cứu giải mã, làm chủ và cải tiến công nghệ cao; nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ cao.
Tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động này có thể được ưu tiên xem xét tài trợ, hỗ trợ kinh phí từ các chương trình, quỹ về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; hưởng các ưu đãi về thuế; được hỗ trợ đào tạo, bảo hộ và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ; hỗ trợ kinh phí đầu tư, vận hành hoặc thuê sử dụng phòng thí nghiệm dùng chung, cơ sở nghiên cứu công nghệ cao.
Đối với công nghệ chiến lược, tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu còn có thể được xem xét giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược và được hưởng cơ chế đặc biệt trong giải mã công nghệ, mua bí quyết công nghệ theo quy định của pháp luật.
4. Phân loại doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ chiến lược
Một nội dung đáng chú ý của Luật là quy định cụ thể hơn về các loại hình doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao.
Theo đó, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao phải đáp ứng các tiêu chí về sản phẩm, dịch vụ, bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng và hệ thống quản lý chất lượng.
Doanh nghiệp công nghệ cao phải đáp ứng các tiêu chí đối với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, đồng thời phải sở hữu, đồng sở hữu hoặc có quyền sử dụng hợp pháp công nghệ, hoặc có hoạt động chuyển giao công nghệ để phát triển và ứng dụng công nghệ cao. Doanh nghiệp cũng phải đáp ứng các tiêu chí về doanh thu, chi cho nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam và lao động trực tiếp thực hiện nghiên cứu và phát triển.
Đặc biệt, doanh nghiệp công nghệ cao được phân thành doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 và doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 2. Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 phải đáp ứng thêm các điều kiện liên quan đến hoạt động nghiên cứu, phát triển hoặc tỷ lệ nội địa hóa và mức chi cho nghiên cứu, phát triển tại Việt Nam.
Đối với doanh nghiệp công nghệ chiến lược, Luật yêu cầu doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ công nghệ chiến lược thuộc danh mục tương ứng; tỷ lệ phần vốn góp hoặc tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư trong nước từ 51% trở lên, trừ trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; đồng thời phải đáp ứng các tiêu chí về sở hữu công nghệ, doanh thu, nghiên cứu và phát triển, tỷ lệ nội địa hóa và nhân lực nghiên cứu, phát triển.
5. Doanh nghiệp công nghệ cao được hưởng nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ
Luật xác định sản xuất sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư.
Doanh nghiệp công nghệ chiến lược được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai và các chính sách có liên quan. Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc danh mục tương ứng được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt theo pháp luật về đầu tư.
Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 cũng được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai và các chính sách liên quan. Trong khi đó, doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 2 và doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định tương ứng của pháp luật.
6. Thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ
Luật không chỉ tập trung vào nghiên cứu mà còn đặt trọng tâm vào việc đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Nhà nước khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong sản xuất, kinh doanh, quốc phòng, an ninh và nhiều lĩnh vực khác. Việc ứng dụng nhằm nâng cao năng suất, giá trị gia tăng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, thúc đẩy chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.
Đối với hoạt động chuyển giao và thương mại hóa, Nhà nước hỗ trợ nhập khẩu công nghệ cao, máy móc, thiết bị công nghệ cao mà trong nước chưa sản xuất được để thực hiện các dự án quan trọng; khuyến khích phát triển các trung tâm xúc tiến, tư vấn, môi giới công nghệ, sàn giao dịch công nghệ, nền tảng số kết nối cung – cầu và cơ sở ươm tạo.
Tổ chức, cá nhân chuyển giao và thương mại hóa công nghệ cao còn có thể được hỗ trợ thử nghiệm, chứng nhận, giám định công nghệ và sản phẩm; hỗ trợ chi phí tìm kiếm, kết nối thị trường và xúc tiến thương mại trong nước, quốc tế.
7. Phát triển hệ sinh thái công nghệ cao và khu công nghệ cao
Luật Công nghệ cao 2025 xác định doanh nghiệp công nghệ cao giữ vai trò trung tâm trong hệ sinh thái công nghệ cao, cùng với cơ quan quản lý, tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục đại học, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và các chủ thể liên quan.
Nhà nước khuyến khích phát triển các cơ sở hạ tầng phục vụ nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, ươm tạo và thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược như khu công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm dùng chung và hạ tầng số.
Đối với khu công nghệ cao, Luật quy định đây là nơi tập trung, liên kết các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, ươm tạo và thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược.
Khu công nghệ cao được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư áp dụng đối với địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Nhà đầu tư và các tổ chức, cá nhân hoạt động tại đây được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ về đất đai, thuế và một số chính sách ưu tiên về thủ tục hành chính theo quy định pháp luật.
8. Bổ sung khái niệm đô thị công nghệ cao
Một điểm mới đáng chú ý là Luật quy định về đô thị công nghệ cao.
Theo đó, đô thị công nghệ cao được hình thành và phát triển trên cơ sở hệ sinh thái công nghệ cao, trong đó khu công nghệ cao và các tổ chức khoa học, công nghệ giữ vai trò trung tâm.
Ngoài việc đáp ứng các tiêu chí của đô thị theo quy định pháp luật, đô thị công nghệ cao phải có khu công nghệ cao, tổ chức khoa học và công nghệ giữ vai trò trung tâm; có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số và hạ tầng công nghệ phục vụ nghiên cứu, phát triển, ứng dụng; có hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và môi trường sống xanh, an toàn, phát triển bền vững.
Luật cũng khuyến khích đầu tư và hợp tác công tư để phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ, hạ tầng xã hội và kết nối vùng phục vụ đô thị công nghệ cao.
9. Hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao
Doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ chiến lược được xác định là doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ chiến lược, mới thành lập nhằm phát triển sản phẩm, dịch vụ dựa trên công nghệ thuộc các danh mục được ưu tiên.
Các doanh nghiệp này phải đáp ứng những tiêu chí như có công nghệ được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hoặc có quyền sử dụng hợp pháp; có hoạt động nghiên cứu và phát triển; có mô hình kinh doanh thể hiện tiềm năng tăng trưởng và khả năng mở rộng thị trường; đồng thời phải thực hiện quản trị doanh nghiệp minh bạch và tuân thủ pháp luật.
Nhà đầu tư, tổ chức và cá nhân thực hiện dự án ươm tạo, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ chiến lược có thể được hỗ trợ về kinh phí, tiếp cận nguồn vốn, thuế, tín dụng đầu tư, đất đai, hạ tầng nghiên cứu, tư vấn pháp lý, sở hữu trí tuệ và xúc tiến thương mại.
10. Một số chính sách về thuế được sửa đổi, bổ sung
Luật Công nghệ cao 2025 đồng thời sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật có liên quan, trong đó có pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Đáng chú ý, Luật quy định áp dụng thuế suất 10% trong 25 năm đối với thu nhập của một số nhóm doanh nghiệp được xác định tại Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi, trong đó có trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ chiến lược và doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 theo quy định được dẫn chiếu.
Luật cũng quy định thời điểm tính thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi trong trường hợp doanh nghiệp được cấp văn bản xác nhận doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ cao hoặc doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao sau thời điểm phát sinh doanh thu.
Bên cạnh đó, một số tổ chức, doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận theo Luật Công nghệ cao năm 2008 vẫn được tiếp tục hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận cho đến khi hết thời hạn ghi trên giấy chứng nhận.
11. Luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2026
Theo Điều 26, Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 hết hiệu lực kể từ thời điểm Luật mới có hiệu lực, trừ các trường hợp được quy định tại điều khoản chuyển tiếp.
Đối với các giấy chứng nhận được cấp theo Luật Công nghệ cao năm 2008 và còn thời hạn sau ngày Luật mới có hiệu lực, các giấy chứng nhận này tiếp tục có hiệu lực đến hết thời hạn.
Các hồ sơ hợp lệ đề nghị cấp giấy chứng nhận đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận trước ngày 01/7/2026 tiếp tục được thực hiện theo quy định của Luật Công nghệ cao năm 2008 và văn bản hướng dẫn thi hành. Các khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã được thành lập trước thời điểm Luật mới có hiệu lực cũng được áp dụng các quy định chuyển tiếp tương ứng.

