1. Doanh nghiệp kinh doanh mua bán vàng miếng phải lưu trữ thông tin người mua vàng có đúng không?
Căn cứ theo Điều 12 Nghị định 24/2012/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 8 Điều 1 Nghị định 232/2025/NĐ-CP) quy định:
Trách nhiệm của các tổ chức được phép sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng
- Ngoài các quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều này, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng có trách nhiệm:
- a) Niêm yết công khai giá mua, giá bán vàng miếng tại địa điểm giao dịch hoặc trên trang thông tin điện tử và kết nối cung cấp thông tin về mức giá niêm yết cho Ngân hàng Nhà nước;
- b) Không được phép thực hiện kinh doanh vàng miếng thông qua các đại lý ủy nhiệm;
- c) Có biện pháp và trang thiết bị bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh;
- d) Xây dựng quy định nội bộ về mua, bán vàng miếng, trong đó quy định rõ quy trình giao dịch mua, bán vàng miếng với khách hàng; công bố công khai thông tin về quyền và nghĩa vụ của khách hàng trên trang thông tin điện tử của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp hoặc niêm yết công khai tại trụ sở giao dịch; lưu trữ đầy đủ, chính xác dữ liệu giao dịch mua bán vàng miếng;
đ) Xây dựng hệ thống thông tin xử lý, lưu trữ dữ liệu giao dịch mua bán vàng miếng có những nội dung cơ bản bao gồm thông tin căn cước đối với cá nhân, mã số thuế doanh nghiệp đối với doanh nghiệp, khối lượng và giá trị giao dịch của bên mua, bán; thực hiện kết nối cung cấp thông tin cho Ngân hàng Nhà nước theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Theo đó, doanh nghiệp kinh doanh mua bán vàng miếng có trách nhiệm xây dựng hệ thống thông tin xử lý, lưu trữ dữ liệu giao dịch mua bán vàng miếng có những nội dung cơ bản bao gồm:
– Thông tin căn cước đối với cá nhân, mã số thuế doanh nghiệp đối với doanh nghiệp.
– Khối lượng và giá trị giao dịch của bên mua, bán.
Đồng thời, thực hiện kết nối cung cấp thông tin cho Ngân hàng Nhà nước theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Như vậy, doanh nghiệp kinh doanh mua bán vàng miếng phải lưu trữ thông tin người mua vàng như sau: Đối với cá nhân thực hiện lưu trữ thông tin căn cước công dân, còn doanh nghiệp thì lưu trữ mã số thuế doanh nghiệp.
2. Doanh nghiệp được phép kinh doanh, mua bán vàng miếng loại nào?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 12 Nghị định 24/2012/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 8 Điều 1 Nghị định 232/2025/NĐ-CP) quy định:
Trách nhiệm của các tổ chức được phép sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng
- Chỉ được phép sản xuất, kinh doanh mua, bán loại vàng miếng quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định này.
Và dẫn chiếu đến khoản 2 Điều 3 Nghị định 24/2012/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Nghị định 232/2025/NĐ-CP) quy định:
Giải thích từ ngữ
- Vàng miếng là sản phẩm vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối lượng, chất lượng, có ký mã hiệu của doanh nghiệp và ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây được gọi là Ngân hàng Nhà nước) cho phép sản xuất; vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất trong từng thời kỳ.
Như vây, doang nghiệp chỉ được phép kinh doanh, mua bán loại vàng miếng là sản phẩm vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối lượng, chất lượng, có ký mã hiệu của doanh nghiệp và ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép sản xuất.
3. Doanh nghiệp, tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh vàng báo cáo hoạt động kinh doanh vàng thế nào?
Căn cứ Điều 29 Thông tư 34/2025/TT-NHNN quy định về thời hạn gửi báo cáo định kỳ hoạt động kinh doanh vàng như sau:
(1) Định kỳ hằng ngày hoặc khi cần thiết, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng được cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng thực hiện báo cáo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam doanh số kinh doanh mua, bán vàng miếng theo mẫu tại Phụ lục số 28 ban hành kèm theo Thông tư 34/2025/TT-NHNN.
(2) Định kỳ hằng quý, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng được cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng có thực hiện thay đổi nội dung về thông tin doanh nghiệp trên Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng (bao gồm thay đổi tên doanh nghiệp, địa chỉ của địa điểm kinh doanh mua, bán vàng miếng, bổ sung địa điểm kinh doanh mua, bán vàng miếng, chấm dứt hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng tại địa điểm đã được cấp phép) gửi báo cáo về các nội dung thay đổi, điều chỉnh nêu trên phát sinh trong kỳ báo cáo theo mẫu Phụ lục số 23 ban hành kèm theo Thông tư 34/2025/TT-NHNN, cụ thể như sau:
– Doanh nghiệp, tổ chức tín dụng gửi báo cáo của toàn hệ thống cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực nơi doanh nghiệp, tổ chức tín dụng đặt trụ sở chính;
– Doanh nghiệp, tổ chức tín dụng gửi báo cáo của chi nhánh, phòng giao dịch có phát sinh thay đổi cho Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực trên địa bàn có chi nhánh, phòng giao dịch đó;
Trường hợp thay đổi địa chỉ của điểm kinh doanh mua, bán vàng miếng do thay đổi địa giới hành chính, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng không cần gửi báo cáo theo quy định tại khoản này.
(3) Định kỳ hằng quý, năm hoặc khi cần thiết, doanh nghiệp kinh doanh vàng thực hiện báo cáo tình hình kinh doanh vàng cho Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực theo quy định sau:
– Doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ thực hiện báo cáo hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ theo mẫu tại Phụ lục số 24 ban hành kèm theo Thông tư 34/2025/TT-NHNN;
– Doanh nghiệp kinh doanh vàng có hợp đồng gia công vàng trang sức, mỹ nghệ cho nước ngoài được cấp Giấy phép tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất sản phẩm thực hiện báo cáo tình hình nhập khẩu vàng nguyên liệu, sản xuất và xuất khẩu vàng trang sức mỹ nghệ theo mẫu tại Phụ lục số 05a ban hành kèm theo Thông tư 34/2025/TT-NHNN.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ xuất khẩu thực hiện báo cáo tình hình xuất khẩu, nhập khẩu vàng và tiêu thụ sản phẩm vàng tại Việt Nam theo mẫu tại Phụ lục số 05b ban hành kèm theo Thông tư 34/2025/TT-NHNN.
(4) Định kỳ hằng tháng, năm hoặc khi cần thiết, doanh nghiệp, ngân hàng thương mại được cấp Giấy phép sản xuất vàng miếng báo cáo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tình hình thực hiện sản xuất vàng miếng và mua, bán vàng nguyên liệu theo mẫu tại Phụ lục số 25, 29, 30 ban hành kèm theo Thông tư 34/2025/TT-NHNN.
Định kỳ hằng tháng, năm hoặc khi cần thiết, doanh nghiệp, ngân hàng thương mại được Giấy phép xuất khẩu vàng miếng, nhập khẩu vàng miếng, nhập khẩu vàng nguyên liệu báo cáo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tình hình thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu vàng theo mẫu tại Phụ lục số 26 ban hành kèm theo Thông tư 34/2025/TT-NHNN.
(5) Trong thời hạn 5 (năm) ngày làm việc kể từ khi kết thúc hợp đồng gia công vàng trang sức, mỹ nghệ cho nước ngoài, doanh nghiệp kinh doanh vàng có hợp đồng gia công vàng trang sức, mỹ nghệ cho nước ngoài được cấp Giấy phép tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất sản phẩm báo cáo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực tình hình thực hiện hợp đồng gia công kèm theo Bảng thanh khoản hợp đồng gia công có xác nhận của hải quan.
(6) Doanh nghiệp, tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng phải niêm yết công khai giá mua, giá bán vàng miếng tại địa điểm kinh doanh, mua bán vàng miếng hoặc trên trang thông tin điện tử và kết nối cung cấp thông tin về mức giá niêm yết cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
(7) Trong trường hợp nội dung báo cáo tại (1), (3) và (4) được quy định tại chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với các tổ chức tín dụng thì tổ chức tín dụng thực hiện báo cáo theo chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.


