CƠ QUAN THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ CẤM ĐI KHỎI NƠI CƯ TRÚ GỒM NHỮNG GÌ? NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN RA SAO?
Từ ngày 01/7/2026, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025 chính thức được áp dụng, quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam và cơ quan, đơn vị được giao quản lý, theo dõi người bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Vậy theo quy định mới, hệ thống cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú gồm những cơ quan, đơn vị nào? Nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan được quy định ra sao?
- Cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú gồm những gì?
Căn cứ Điều 9 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025, hệ thống tổ chức cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam được quy định gồm nhiều loại cơ sở giam giữ thuộc Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và một số lực lượng có thẩm quyền khác.
Cụ thể, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam bao gồm:
- Trại tạm giam, phân trại tạm giam thuộc trại tạm giam Bộ Công an;
- Trại tạm giam, phân trại tạm giam thuộc trại tạm giam Bộ Quốc phòng;
- Trại tạm giam, phân trại tạm giam thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh; trại tạm giam thuộc cấp quân khu;
- Nhà tạm giữ thuộc Cơ quan điều tra hình sự khu vực trong Quân đội nhân dân;
- Buồng tạm giữ của Công an đặc khu;
- Buồng tạm giữ của Đồn Biên phòng ở vùng sâu, vùng xa hoặc ở nơi xa các cơ sở giam giữ, của Biên phòng cửa khẩu cảng;
- Buồng tạm giữ của Vùng Cảnh sát biển.
Đối với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, Luật quy định Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã và đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú là các cơ quan, đơn vị được giao thực hiện một số nhiệm vụ thi hành biện pháp ngăn chặn này.
Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ Công an có thẩm quyền quyết định thành lập, giải thể cơ sở giam giữ, quyết định quy mô của cơ sở giam giữ và ban hành nội quy của cơ sở giam giữ trong Công an nhân dân.
Tương tự, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định thành lập, giải thể cơ sở giam giữ, quyết định quy mô của cơ sở giam giữ và ban hành nội quy của cơ sở giam giữ trong Quân đội nhân dân.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của nhà tạm giữ, trại tạm giam
Theo khoản 1 Điều 11 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025, nhà tạm giữ, trại tạm giam có nhiều nhiệm vụ, quyền hạn nhằm bảo đảm việc quản lý người bị tạm giữ, người bị tạm giam đúng quy định pháp luật, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người này.
Cụ thể, nhà tạm giữ, trại tạm giam có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
Tiếp nhận và lập hồ sơ người bị tạm giữ, tạm giam
Nhà tạm giữ, trại tạm giam có trách nhiệm tiếp nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo lệnh, quyết định của người có thẩm quyền được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc theo quyết định điều chuyển được thực hiện theo quy định của Luật.
Đồng thời, cơ quan này phải thực hiện việc lập hồ sơ, lập danh bản, chỉ bản của người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định.
Quản lý, giam giữ người bị tạm giữ, tạm giam
Nhà tạm giữ, trại tạm giam thực hiện các biện pháp quản lý, giam giữ đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo đúng lệnh, quyết định của người có thẩm quyền và các quy định pháp luật có liên quan.
Việc quản lý, giam giữ phải bảo đảm đúng đối tượng, đúng thời hạn và đúng chế độ theo quy định của pháp luật.
Bảo đảm an toàn và quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà tạm giữ, trại tạm giam là áp dụng các biện pháp bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, đồng thời tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.
Cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam cũng phải bảo đảm để người bị tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú và các quy định pháp luật có liên quan.
Đối với các kiến nghị thuộc thẩm quyền, cơ quan có trách nhiệm giải quyết theo quy định. Trường hợp kháng cáo, khiếu nại, tố cáo, yêu cầu, kiến nghị, đề nghị không thuộc thẩm quyền giải quyết thì phải chuyển đến cơ quan có thẩm quyền.
Thực hiện việc giao người theo lệnh trích xuất
Nhà tạm giữ, trại tạm giam có trách nhiệm giao người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo lệnh trích xuất hoặc quyết định của người có thẩm quyền.
Việc giao người phải được thực hiện đúng căn cứ, trình tự và thẩm quyền theo quy định pháp luật.
Báo cáo khi phát hiện lệnh, quyết định trái pháp luật
Khi có căn cứ cho rằng lệnh, quyết định tạm giữ, tạm giam hoặc trả tự do là trái pháp luật, nhà tạm giữ, trại tạm giam phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền để xem xét, xử lý theo quy định.
Phối hợp trong quá trình giải quyết vụ án
Nhà tạm giữ, trại tạm giam có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Việc phối hợp nhằm bảo đảm hoạt động tố tụng và thi hành án được thực hiện đúng quy định, đồng thời bảo đảm việc quản lý người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Theo dõi thời hạn tạm giữ, tạm giam
Nhà tạm giữ, trại tạm giam phải chủ động theo dõi thời hạn tạm giữ, tạm giam và thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án để kịp thời giải quyết.
Theo quy định, cơ quan này phải:
- Thông báo bằng văn bản đến cơ quan đang thụ lý vụ án 01 ngày trước khi hết thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ;
- Thông báo 05 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam;
- Thông báo 10 ngày trước khi hết thời hạn gia hạn tạm giam;
- Đồng thời yêu cầu cơ quan đang thụ lý vụ án giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Trường hợp đã hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam mà cơ quan đang thụ lý vụ án không giải quyết thì nhà tạm giữ, trại tạm giam phải kiến nghị ngay Viện kiểm sát có thẩm quyền xử lý.
Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm soát thời hạn tạm giữ, tạm giam, hạn chế tình trạng giam giữ quá thời hạn và góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự.
Trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam
Nhà tạm giữ, trại tạm giam có trách nhiệm trả tự do cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền.
Thống kê, báo cáo
Ngoài các nhiệm vụ nêu trên, nhà tạm giữ, trại tạm giam còn thực hiện việc thống kê, báo cáo về công tác thi hành tạm giữ, tạm giam và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao theo thẩm quyền.
- Trại tạm giam, phân trại tạm giam còn có nhiệm vụ gì?
Đối với trại tạm giam, phân trại tạm giam, ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên, còn có nhiệm vụ tiếp nhận, quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Như vậy, trại tạm giam không chỉ thực hiện việc tạm giữ, tạm giam mà trong những trường hợp theo quy định còn thực hiện nhiệm vụ liên quan đến quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của buồng tạm giữ
Bên cạnh nhà tạm giữ và trại tạm giam, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025 còn quy định về buồng tạm giữ tại một số cơ quan, đơn vị.
Theo Điều 13 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025, các đơn vị được tổ chức buồng tạm giữ để quản lý và thực hiện chế độ tạm giữ đối với người bị tạm giữ trong những trường hợp luật định.
Buồng tạm giữ của Công an đặc khu
Công an đặc khu được tổ chức buồng tạm giữ để quản lý, thực hiện chế độ tạm giữ đối với người bị tạm giữ theo quyết định của Trưởng Công an đặc khu hoặc Phó Trưởng Công an đặc khu là Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp hoặc của người có thẩm quyền khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Buồng tạm giữ của Đồn Biên phòng, Biên phòng cửa khẩu cảng
Đồn Biên phòng đóng ở vùng sâu, vùng xa hoặc ở nơi xa các cơ sở giam giữ và Biên phòng cửa khẩu cảng được tổ chức buồng tạm giữ để quản lý, thực hiện chế độ tạm giữ đối với người bị tạm giữ theo quyết định của Đồn trưởng Đồn Biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng cửa khẩu cảng hoặc người có thẩm quyền khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Buồng tạm giữ của Vùng Cảnh sát biển
Vùng Cảnh sát biển được tổ chức buồng tạm giữ để quản lý, thực hiện chế độ tạm giữ đối với người bị tạm giữ theo quyết định của Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển hoặc người có thẩm quyền khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Người đứng đầu buồng tạm giữ
Buồng tạm giữ của Công an đặc khu, Đồn Biên phòng, Biên phòng cửa khẩu cảng và Vùng Cảnh sát biển có Trưởng buồng tạm giữ.
Trưởng buồng tạm giữ chịu sự quản lý trực tiếp của Trưởng Công an đặc khu, Đồn trưởng Đồn Biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng cửa khẩu cảng hoặc Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển tương ứng.
Trưởng buồng tạm giữ có các nhiệm vụ, quyền hạn trong việc quản lý người bị tạm giữ tương ứng với nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng nhà tạm giữ được quy định tại khoản 3 Điều 11 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025.
- Nguyên tắc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/7/2026
Cùng với việc quy định rõ hệ thống cơ quan thi hành, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025 cũng đặt ra các nguyên tắc quan trọng trong quá trình quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú.
Theo Điều 3 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025, việc quản lý, thi hành phải bảo đảm các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Việc thi hành phải bảo đảm quyền con người, lợi ích của Nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Thứ hai, bảo đảm thực hiện nghiêm lệnh, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền. Điều này bao gồm lệnh, quyết định về tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú và trả tự do.
Thứ ba, bảo đảm tính nhân đạo trong quá trình thi hành. Không được tra tấn, truy bức, dùng nhục hình hoặc thực hiện bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam và người bị cấm đi khỏi nơi cư trú.
Thứ tư, bảo đảm quyền con người và quyền, nghĩa vụ của công dân. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam và người bị cấm đi khỏi nơi cư trú được thực hiện các quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân nếu những quyền này không bị hạn chế bởi Luật hoặc quy định pháp luật có liên quan.
Thứ năm, việc áp dụng biện pháp quản lý giam giữ phải phù hợp với từng đối tượng. Việc quản lý phải căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, độ tuổi, giới tính, sức khỏe và các đặc điểm nhân thân khác của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.
Đồng thời, phải bảo đảm bình đẳng giới và quyền, lợi ích chính đáng của phụ nữ, người dưới 18 tuổi cùng các đối tượng có đặc điểm nhân thân khác.
Thứ sáu, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ. Luật quy định việc ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú.
