XÓA ÁN TÍCH VÀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CẦN BIẾT
Xóa án tích là cơ chế pháp lý tạo điều kiện để người đã bị kết án tái hòa nhập cộng đồng khi đáp ứng đủ điều kiện luật định. Trong khi đó, trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đặt ra yêu cầu về tuân thủ pháp luật và kiểm soát rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Vậy pháp luật quy định như thế nào về điều kiện xóa án tích, thời hạn xóa án tích và các trường hợp pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự?
Đây là những vấn đề có ý nghĩa thiết thực đối với cá nhân đã bị kết án, người đang tìm hiểu thủ tục xác nhận tình trạng án tích và doanh nghiệp cần chủ động phòng ngừa rủi ro pháp lý. Việc nắm rõ các quy định liên quan không chỉ giúp xác định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể mà còn góp phần bảo đảm việc áp dụng pháp luật được chính xác, thống nhất.
1. Xóa án tích: Khi nào người bị kết án được coi như chưa bị kết án?
Theo Điều 69 Bộ luật Hình sự, người bị kết án được xóa án tích theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 và 73. Đặc biệt, người được xóa án tích được coi như chưa bị kết án.
Bên cạnh đó, pháp luật quy định người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.
Tùy thuộc vào loại tội phạm, hình phạt đã tuyên và quá trình chấp hành bản án, việc xóa án tích được xem xét theo các cơ chế khác nhau. Vì vậy, không phải mọi trường hợp đều áp dụng chung một thời hạn hoặc cùng một thủ tục.
Ảnh minh họa (Internet)
1.1. Đương nhiên được xóa án tích
Theo Điều 70 Bộ luật Hình sự, đương nhiên được xóa án tích áp dụng đối với người bị kết án không thuộc các trường hợp quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này, khi đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định.
Người bị kết án phải chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo; đồng thời, phải chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án, không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn tương ứng.
Thời hạn đương nhiên được xóa án tích được xác định căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên, cụ thể:
| Hình phạt đã tuyên | Thời hạn đương nhiên được xóa án tích |
|---|---|
| Phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo | 01 năm |
| Phạt tù đến 05 năm | 02 năm |
| Phạt tù trên 05 năm đến 15 năm | 03 năm |
| Phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án | 05 năm |
Các thời hạn trên được tính theo điều kiện và mốc thời gian quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự, không đơn thuần chỉ căn cứ vào ngày người bị kết án ra khỏi cơ sở giam giữ.
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung như quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn chấp hành dài hơn thời hạn thông thường theo luật định, thời điểm đương nhiên được xóa án tích được xác định khi người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung tương ứng.
Ngoài ra, pháp luật cũng quy định trường hợp người bị kết án được xem xét đương nhiên xóa án tích nếu kể từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, họ không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn luật định.
Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình trạng án tích và cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích khi có yêu cầu, nếu người đó đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.
1.2. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án
Khác với trường hợp đương nhiên được xóa án tích, một số trường hợp phải được Tòa án quyết định xóa án tích theo Điều 71 Bộ luật Hình sự.
Cơ chế này áp dụng đối với người bị kết án về các tội thuộc Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật Hình sự. Khi xem xét, Tòa án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án.
Thời hạn để được xem xét xóa án tích được quy định như sau:
| Hình phạt đã tuyên | Thời hạn để được xem xét xóa án tích |
|---|---|
| Phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 05 năm | 03 năm |
| Phạt tù trên 05 năm đến 15 năm | 05 năm |
| Phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án | 07 năm |
Để được Tòa án quyết định xóa án tích, người bị kết án phải đáp ứng các điều kiện về chấp hành hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo, chấp hành hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án, đồng thời không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn tương ứng.
Trường hợp bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, người bị kết án phải chờ 01 năm mới được xin lại. Nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thời hạn chờ là 02 năm.
1.3. Trường hợp đặc biệt được xóa án tích sớm
Pháp luật cũng ghi nhận cơ chế xóa án tích trong trường hợp đặc biệt tại Điều 72 Bộ luật Hình sự.
Theo đó, người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt, đã lập công và được cơ quan, tổ chức nơi công tác hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú đề nghị thì có thể được Tòa án quyết định xóa án tích sớm.
Điều kiện quan trọng là người đó phải bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 Bộ luật Hình sự.
Quy định này thể hiện sự ghi nhận của pháp luật đối với quá trình cải tạo, tiến bộ và nỗ lực khắc phục của người bị kết án. Tuy nhiên, việc đáp ứng thời gian tối thiểu không đồng nghĩa với việc đương nhiên được xóa án tích; quyết định cuối cùng thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định.
1.4. Cách tính thời hạn xóa án tích cần lưu ý điều gì?
Điều 73 Bộ luật Hình sự quy định thời hạn xóa án tích căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên. Tuy nhiên, việc xác định thời điểm bắt đầu tính thời hạn còn phụ thuộc vào tình trạng chấp hành bản án và các tình tiết phát sinh trong quá trình đó.
Một số trường hợp cần đặc biệt lưu ý gồm:
- Người chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới, sau đó bị kết án bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật, thì thời hạn xóa án tích cũ được tính lại theo các mốc thời gian quy định tại Điều 73.
- Người phạm nhiều tội, trong đó có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích và có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án, thì việc xóa án tích được xem xét theo thời hạn quy định tại Điều 71.
- Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại được coi như đã chấp hành xong hình phạt.
Do đó, để xác định chính xác thời điểm được xóa án tích, cần xem xét đầy đủ bản án, loại hình phạt, thời điểm chấp hành xong hình phạt và các nghĩa vụ còn phải thực hiện. Việc chỉ căn cứ vào thời gian đã trôi qua kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù có thể dẫn đến xác định sai điều kiện xóa án tích.
2. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại: Doanh nghiệp có thể bị xử lý hình sự trong trường hợp nào?
Không chỉ cá nhân, pháp luật hình sự Việt Nam còn quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại trong những trường hợp cụ thể. Đây là cơ sở pháp lý để xử lý các hành vi phạm tội được thực hiện trong hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời nâng cao trách nhiệm của tổ chức trong việc quản lý và kiểm soát hoạt động kinh doanh.
2.1. Bốn điều kiện xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Theo Điều 74 và Điều 75 Bộ luật Hình sự, pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự theo các quy định tại Chương XI và những quy định khác của Phần thứ nhất Bộ luật này nếu không trái với quy định của Chương XI.
Một pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đầy đủ bốn điều kiện:
- Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại.
- Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại.
- Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại.
- Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 và khoản 3 Điều 27 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, không phải mọi hành vi vi phạm xảy ra tại doanh nghiệp đều tự động làm phát sinh trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Việc xác định trách nhiệm phải dựa trên tính chất hành vi, mối liên hệ với pháp nhân và các điều kiện cụ thể mà pháp luật quy định.
Đáng chú ý, khoản 2 Điều 75 khẳng định việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân. Điều này có nghĩa là trong cùng một vụ việc, pháp nhân thương mại và cá nhân có liên quan có thể cùng bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi của từng chủ thể đáp ứng các điều kiện luật định.
2.2. Những nhóm tội phạm pháp nhân thương mại có thể phải chịu trách nhiệm hình sự
Theo Điều 76 Bộ luật Hình sự, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội danh được liệt kê cụ thể trong điều luật.
Các nhóm tội phạm đáng chú ý bao gồm:
- Tội phạm về kinh tế và hoạt động thương mại: buôn lậu; vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; sản xuất, buôn bán hàng cấm; sản xuất, buôn bán hàng giả; đầu cơ; trốn thuế; in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước.
- Tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm và cạnh tranh: cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán; sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán; thao túng thị trường chứng khoán; gian lận trong kinh doanh bảo hiểm; vi phạm quy định về cạnh tranh.
- Tội phạm liên quan đến lao động và bảo hiểm: trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
- Tội phạm về sở hữu trí tuệ: xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và quyền sở hữu công nghiệp.
- Tội phạm về tài nguyên, rừng và môi trường: vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; gây ô nhiễm môi trường cùng các tội phạm khác được liệt kê tại Điều 76.
Việc liệt kê các tội danh cụ thể cho thấy phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại được giới hạn theo quy định pháp luật, không áp dụng đối với mọi tội phạm trong Bộ luật Hình sự.
Đối với doanh nghiệp, nguy cơ pháp lý có thể phát sinh từ những hoạt động tưởng chừng thuần túy về quản trị và vận hành, chẳng hạn như kê khai thuế, sử dụng hóa đơn, thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm, bảo vệ môi trường hoặc khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Vì vậy, kiểm soát tuân thủ pháp luật cần được xem là một phần thiết yếu trong quản trị doanh nghiệp.
2.3. Pháp nhân thương mại có thể phải chịu những hình phạt nào?
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết liên quan, pháp nhân thương mại có thể bị áp dụng các hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Phạt tiền
Theo Điều 77, phạt tiền có thể là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung. Mức phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, tình hình tài chính của pháp nhân và sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn 50 triệu đồng.
Đình chỉ hoạt động có thời hạn
Theo Điều 78, hình phạt này được áp dụng khi hoạt động phạm tội của pháp nhân gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả có khả năng khắc phục trên thực tế. Thời hạn đình chỉ từ 06 tháng đến 03 năm.
Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn
Theo Điều 79, hình phạt này có thể được áp dụng khi hành vi phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không có khả năng khắc phục hậu quả. Trường hợp pháp nhân được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động.
Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định
Theo Điều 80, Tòa án có thể áp dụng hình phạt này nếu xét thấy việc tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực cụ thể có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe con người hoặc cho xã hội. Thời hạn cấm từ 01 năm đến 03 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Cấm huy động vốn
Theo Điều 81, hình phạt này được áp dụng khi việc tiếp tục huy động vốn có nguy cơ dẫn đến việc pháp nhân thương mại tiếp tục phạm tội. Các hình thức cấm có thể bao gồm cấm vay vốn từ ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc quỹ đầu tư; cấm phát hành, chào bán chứng khoán; cấm huy động vốn khách hàng; cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản. Thời hạn cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Các hình phạt này có thể tác động trực tiếp đến khả năng vận hành, huy động vốn và duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, việc phòng ngừa vi phạm và xây dựng cơ chế kiểm soát nội bộ có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế rủi ro pháp lý.
2.4. Biện pháp tư pháp, tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự
Ngoài hình phạt, pháp nhân thương mại phạm tội còn có thể bị áp dụng các biện pháp tư pháp theo Điều 82 Bộ luật Hình sự.
Tùy từng trường hợp, Tòa án có thể buộc pháp nhân khôi phục tình trạng ban đầu; tháo dỡ công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng giấy phép; khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; đưa hàng hóa vi phạm ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc tái xuất; tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại; loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa và thu hồi sản phẩm, hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị trường.
Việc quyết định hình phạt phải căn cứ vào Điều 83, trong đó Tòa án xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, việc chấp hành pháp luật của pháp nhân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Theo Điều 84, các tình tiết giảm nhẹ có thể bao gồm việc chủ động ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng; có nhiều đóng góp trong việc thực hiện chính sách xã hội.
Ngược lại, Điều 85 quy định các tình tiết tăng nặng như câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội; cố ý thực hiện tội phạm đến cùng; phạm tội từ hai lần trở lên; tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm; lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội; sử dụng thủ đoạn tinh vi để phạm tội hoặc nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm.
Đặc biệt, theo Điều 88, pháp nhân thương mại phạm tội có thể được miễn hình phạt khi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Đây là quy định cần được xem xét trong từng vụ việc cụ thể, trên cơ sở các điều kiện luật định.
2.5. Khi nào pháp nhân thương mại được xóa án tích?
Theo Điều 89 Bộ luật Hình sự, pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án, hoặc kể từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới.
Quy định này xác lập điều kiện để xác định tình trạng án tích của pháp nhân thương mại sau khi đáp ứng các yêu cầu theo pháp luật. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp nhận thức rõ trách nhiệm chấp hành bản án, thực hiện các nghĩa vụ liên quan và duy trì hoạt động tuân thủ pháp luật.
3. Cá nhân và doanh nghiệp cần lưu ý gì để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp?
Từ các quy định nêu trên, có thể thấy việc xác định tình trạng án tích hoặc đánh giá trách nhiệm hình sự không thể chỉ dựa trên một yếu tố riêng lẻ. Mỗi trường hợp cần được xem xét trên cơ sở quy định pháp luật áp dụng và hồ sơ, tình tiết thực tế.
Đối với cá nhân đã bị kết án, cần lưu ý:
- Xác định đúng trường hợp xóa án tích được áp dụng đối với mình.
- Kiểm tra thời hạn xóa án tích và các mốc thời gian bắt đầu tính thời hạn.
- Rà soát việc chấp hành hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án.
- Chủ động tìm hiểu thủ tục xác nhận tình trạng án tích khi có nhu cầu sử dụng phiếu lý lịch tư pháp.
Đối với doanh nghiệp, cần chú trọng:
- Thiết lập cơ chế kiểm soát nội bộ và phân định rõ trách nhiệm trong quản lý, điều hành.
- Rà soát việc tuân thủ pháp luật về thuế, hóa đơn, bảo hiểm, cạnh tranh, sở hữu trí tuệ và môi trường.
- Kiểm soát các quyết định kinh doanh có nguy cơ dẫn đến vi phạm pháp luật hình sự.
- Kịp thời đánh giá trách nhiệm của pháp nhân và cá nhân có liên quan khi phát sinh dấu hiệu vi phạm, đồng thời thực hiện các biện pháp khắc phục phù hợp theo quy định.
Việc chủ động rà soát và tuân thủ pháp luật không chỉ giúp hạn chế nguy cơ phát sinh trách nhiệm pháp lý mà còn góp phần bảo vệ uy tín, tài sản và sự ổn định trong hoạt động của doanh nghiệp.

