QUY ĐỊNH MỚI VỀ VĂN BẰNG, CHỨNG CHỈ CỦA HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN TỪ NGÀY 15/4/2026
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT ngày 26/02/2026 ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân. Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/04/2026, thay thế một số quy định trước đây về quản lý, cấp phát và sử dụng văn bằng, chứng chỉ.
Quy chế mới quy định tương đối toàn diện về nguyên tắc quản lý, thẩm quyền cấp, thời hạn cấp, cấp lại, chỉnh sửa, thu hồi, hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ; cấp bản sao từ sổ gốc và quản lý cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ. Đáng chú ý, quy định mới xác lập giá trị pháp lý như nhau giữa văn bằng, chứng chỉ giấy và văn bằng, chứng chỉ số, đồng thời tăng cường việc tra cứu, xác minh thông qua cơ sở dữ liệu điện tử.
Ảnh minh họa(Internet
Văn bằng, chứng chỉ giấy và văn bằng, chứng chỉ số có giá trị pháp lý như nhau
Theo Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT, văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân được thể hiện dưới dạng giấy hoặc số và được cấp cho người học khi đáp ứng các điều kiện tốt nghiệp, hoàn thành chương trình đào tạo và đạt chuẩn đầu ra theo quy định.
Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng trung học nghề, bằng trung cấp, bằng cao đẳng, bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ và văn bằng của chương trình đào tạo chuyên sâu đối với một số ngành, lĩnh vực đặc thù.
Đối với văn bằng, chứng chỉ số, đây là văn bằng, chứng chỉ được cấp dưới dạng kỹ thuật số từ cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc cơ quan được phân cấp. Đáng chú ý, văn bằng, chứng chỉ giấy và văn bằng, chứng chỉ số có giá trị pháp lý như nhau.
Quy định này tạo cơ sở pháp lý cho việc đẩy mạnh số hóa công tác quản lý văn bằng, chứng chỉ, đồng thời tạo thuận lợi cho người học trong việc sử dụng và xác minh thông tin về văn bằng, chứng chỉ.
Thời hạn cấp văn bằng, chứng chỉ được quy định cụ thể
Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT quy định rõ thời hạn cơ quan có thẩm quyền phải cấp văn bằng, chứng chỉ cho người học.
Đối với văn bằng, chứng chỉ số, thời hạn cấp là 05 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp hoặc cấp chứng chỉ.
Đối với văn bằng giấy, thời hạn cấp là 30 ngày kể từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học; quyết định công nhận tốt nghiệp và cấp bằng thạc sĩ hoặc quyết định công nhận học vị tiến sĩ và cấp bằng tiến sĩ.
Đối với chứng chỉ giấy, thời hạn cấp là 15 ngày kể từ ngày kết thúc khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp hoặc dự thi lấy chứng chỉ. Trong thời gian chờ cấp văn bằng giấy, người học đủ điều kiện có thể được cơ sở giáo dục cấp giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời nếu có nhu cầu.
Người được cấp văn bằng, chứng chỉ có những quyền và nghĩa vụ gì?
Theo Quy chế mới, người được cấp văn bằng, chứng chỉ có quyền được cấp văn bằng, chứng chỉ đúng thời hạn, ghi đầy đủ và chính xác thông tin; được cấp lại hoặc chỉnh sửa theo quy định; được cấp bản sao từ sổ gốc và được tra cứu văn bằng, chứng chỉ đã được cấp trên cơ sở dữ liệu.
Bên cạnh đó, người được cấp văn bằng, chứng chỉ có trách nhiệm cung cấp chính xác, đầy đủ thông tin cần thiết; kiểm tra thông tin trên văn bằng, chứng chỉ trước khi ký nhận hoặc tiếp nhận văn bằng, chứng chỉ số.
Người được cấp văn bằng, chứng chỉ cũng phải giữ gìn, bảo quản văn bằng, chứng chỉ, không được tẩy xóa, sửa chữa nội dung hoặc cho người khác sử dụng văn bằng, chứng chỉ. Trường hợp bị mất văn bằng, chứng chỉ giấy, người được cấp phải trình báo cho cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ và cơ quan công an nơi gần nhất.
Trường hợp nào được cấp lại văn bằng, chứng chỉ?
Một điểm đáng lưu ý là việc cấp lại văn bằng, chứng chỉ được áp dụng khi văn bằng, chứng chỉ đã cấp bị viết sai do lỗi của cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ.
Người có yêu cầu cấp lại có thể cung cấp thông tin yêu cầu chỉnh sửa trên cổng dịch vụ công trực tuyến. Trường hợp không thể thực hiện trực tuyến, người yêu cầu có thể gửi hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính đến cơ quan có thẩm quyền.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc cấp lại. Nếu không cấp lại thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Văn bằng, chứng chỉ được cấp lại phải sử dụng mẫu hiện hành và được ghi chữ “CẤP LẠI” ngay dưới tên văn bằng, chứng chỉ. Đồng thời, thông tin về văn bằng được cấp lại phải được cập nhật vào cơ sở dữ liệu và văn bằng đã cấp có lỗi phải được cập nhật trạng thái thu hồi, hủy bỏ.
Có thể yêu cầu chỉnh sửa nội dung văn bằng, chứng chỉ trong những trường hợp nào?
Người được cấp văn bằng, chứng chỉ có quyền yêu cầu chỉnh sửa nội dung trong một số trường hợp như: được cơ quan có thẩm quyền quyết định thay đổi hoặc cải chính hộ tịch; được xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính; được bổ sung hoặc điều chỉnh hộ tịch; đăng ký khai sinh quá hạn, đăng ký lại khai sinh.
Ngoài ra, văn bằng, chứng chỉ cũng có thể được chỉnh sửa khi thông tin ghi trên văn bằng, chứng chỉ sai do người học cung cấp và không có lỗi của cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ.
Việc chỉnh sửa không được thực hiện bằng cách sửa trực tiếp trên văn bằng, chứng chỉ. Thay vào đó, cơ quan có thẩm quyền phải ban hành quyết định chỉnh sửa, lưu quyết định trong hồ sơ cấp văn bằng, chứng chỉ và cập nhật thông tin tương ứng vào cơ sở dữ liệu.
Thời hạn xem xét, quyết định việc chỉnh sửa là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp không chỉnh sửa phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Những trường hợp văn bằng, chứng chỉ bị thu hồi, hủy bỏ
Theo Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT, văn bằng, chứng chỉ bị thu hồi, hủy bỏ trong các trường hợp:
- Có hành vi gian lận trong tuyển sinh, học tập, thi cử, bảo vệ đồ án, khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án hoặc gian lận trong hồ sơ để được cấp văn bằng, chứng chỉ;
- Cấp cho người không đủ điều kiện;
- Do người không có thẩm quyền cấp;
- Bị tẩy xóa, sửa chữa;
- Để cho người khác sử dụng;
- Do lỗi của cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ.
Quyết định thu hồi, hủy bỏ phải được cập nhật vào phụ lục sổ gốc và cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ. Đồng thời, quyết định thu hồi, hủy bỏ phải được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền và gửi đến các chủ thể có liên quan theo quy định.
Cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc
Quy chế mới tiếp tục quy định cơ chế cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc. Bản sao có thể được cấp dưới dạng văn bản giấy hoặc văn bản điện tử và nội dung phải chính xác so với sổ gốc hoặc cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ.
Người được cấp bản chính, người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền có quyền yêu cầu cấp bản sao. Trong trường hợp người được cấp văn bằng, chứng chỉ đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột hoặc người thừa kế khác cũng có quyền yêu cầu theo quy định.
Đáng chú ý, cơ quan có thẩm quyền phải cấp bản sao ngay trong ngày tiếp nhận yêu cầu hoặc ngày làm việc tiếp theo nếu tiếp nhận sau 15 giờ, khi hồ sơ hợp lệ. Đối với trường hợp có yêu cầu số lượng lớn hoặc nội dung phức tạp, thời hạn có thể được kéo dài thêm theo quy định.
Tăng cường tra cứu, xác minh văn bằng, chứng chỉ trên môi trường số
Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT quy định Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ để sử dụng chung trên toàn quốc. Cơ sở dữ liệu này phục vụ việc cấp văn bằng, chứng chỉ số, lưu trữ thông tin văn bằng, chứng chỉ đã cấp và công khai thông tin về việc cấp văn bằng, chứng chỉ.
Cơ sở dữ liệu được định hướng kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành nhằm phục vụ giải quyết thủ tục hành chính cho người được cấp văn bằng, chứng chỉ. Quy định cập nhật dữ liệu và công khai thông tin về cấp, chỉnh sửa, thu hồi, hủy bỏ cũng áp dụng đối với cả văn bằng, chứng chỉ đã được cấp trước ngày Thông tư có hiệu lực.
Đặc biệt, thông tin tra cứu từ cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ hoặc thông tin hiển thị trên ứng dụng VNeID được sử dụng thay cho bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc và có giá trị xác minh văn bằng, chứng chỉ. Việc sử dụng các thông tin này phải đúng mục đích và tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Một số quy định chuyển tiếp cần lưu ý
Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 15/04/2026. Các mẫu văn bằng, chứng chỉ và bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc được ban hành, phê duyệt trước ngày Thông tư có hiệu lực được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 31/08/2026.
Đồng thời, Quy chế mới quy định việc cấp lại, chỉnh sửa, cấp bản sao, thu hồi, hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ và cập nhật cơ sở dữ liệu được áp dụng cả đối với văn bằng, chứng chỉ đã cấp trước ngày Thông tư có hiệu lực.
