Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: Những điểm mới đáng chú ý từ năm 2027

Bởi Phương Ánh
84 lượt xem

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: Những điểm mới đáng chú ý từ năm 2027

Khi cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền được yêu cầu Nhà nước bồi thường là một cơ chế quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 10/2017/QH14 ngày 20/6/2017 là cơ sở pháp lý điều chỉnh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Luật quy định về đối tượng được bồi thường, thiệt hại được bồi thường, quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại, cơ quan giải quyết bồi thường, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường, phục hồi danh dự, kinh phí bồi thường và trách nhiệm hoàn trả.

Quốc hội đã thông qua Luật số 15/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngày 23/8/2026. Luật mới có hiệu lực từ ngày 01/3/2027 và sửa đổi, bổ sung nhiều quy định quan trọng liên quan đến phạm vi trách nhiệm bồi thường, trình tự giải quyết yêu cầu bồi thường, phục hồi danh dự và trách nhiệm hoàn trả.
Ảnh minh họa ( Internet )

1. Mở rộng và làm rõ đối tượng được bảo vệ

Theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì được xem xét bồi thường.

Luật số 15/2026/QH16 tiếp tục hoàn thiện các khái niệm liên quan đến “người thi hành công vụ” và “người yêu cầu bồi thường”, đồng thời bổ sung các khái niệm “người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực” và “người thân”.

Việc bổ sung các khái niệm này giúp xác định rõ hơn phạm vi chủ thể được bảo vệ trong quá trình thực hiện các hoạt động đấu tranh, phản ánh, tố giác và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Theo quy định mới, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp người có thẩm quyền không thực hiện, thực hiện không kịp thời hoặc thực hiện không đúng quy định việc bảo vệ người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân của họ, nếu hành vi đó thuộc trường hợp gây thiệt hại được Luật quy định.

2. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được mở rộng

Một trong những nội dung đáng chú ý của Luật số 15/2026/QH16 là việc sửa đổi toàn diện Điều 17 về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính.

Theo đó, nhiều trường hợp cụ thể được xác định thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trong đó có:

  • Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật;
  • Áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính trái pháp luật;
  • Thực hiện một số biện pháp khắc phục hậu quả trái pháp luật;
  • Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật;
  • Áp dụng biện pháp xử lý hành chính trái pháp luật;
  • Không thực hiện, thực hiện không kịp thời hoặc không đúng quy định việc bảo vệ người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân;
  • Cố ý cung cấp thông tin sai lệch mà không cải chính theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin;
  • Cấp, thu hồi, hủy bỏ hoặc không cấp một số loại giấy chứng nhận, giấy phép, đăng ký liên quan đến doanh nghiệp, hộ kinh doanh và hoạt động đầu tư trái pháp luật;
  • Thu thuế, phí, tiền sử dụng đất trái pháp luật;
  • Thực hiện thủ tục hải quan trái pháp luật;
  • Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc cấp giấy chứng nhận trái pháp luật;
  • Ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật;
  • Cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trái pháp luật;
  • Buộc thôi việc công chức trái pháp luật trong những trường hợp luật định.

Như vậy, phạm vi trách nhiệm bồi thường không chỉ liên quan đến các quyết định hành chính mà còn bao quát nhiều lĩnh vực có tác động trực tiếp đến quyền tài sản, hoạt động kinh doanh, đất đai, thuế, hải quan, sở hữu trí tuệ và quyền của những người tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

3. Người bị thiệt hại có thêm cơ chế yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự

Luật số 15/2026/QH16 sửa đổi quy định về trường hợp Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường trong vụ án hình sự.

Theo đó, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nếu Tòa án xác định có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và người bị thiệt hại có yêu cầu bồi thường thì Tòa án có thể giải quyết vấn đề bồi thường trong cùng vụ án.

Quy định này tạo cơ sở để việc giải quyết trách nhiệm bồi thường được thực hiện ngay trong quá trình giải quyết vụ án hình sự khi đáp ứng các điều kiện luật định.

4. Thủ tục yêu cầu bồi thường được quy định cụ thể với nhiều thời hạn ngắn

Luật năm 2017 đã quy định trình tự giải quyết yêu cầu bồi thường, trong đó cơ quan giải quyết bồi thường có trách nhiệm tiếp nhận, xác minh thiệt hại, thương lượng và ra quyết định giải quyết bồi thường. Cơ quan giải quyết bồi thường không thu án phí, lệ phí và các khoản phí khác đối với nội dung yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Người bị thiệt hại cũng không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với số tiền bồi thường được nhận.

Từ ngày 01/3/2027, Luật số 15/2026/QH16 quy định cụ thể hơn về thời hạn xử lý hồ sơ.

Theo Điều 41 và Điều 42 được sửa đổi, hồ sơ yêu cầu bồi thường gồm văn bản yêu cầu bồi thường và tài liệu làm căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường. Người yêu cầu có thể gửi hồ sơ bằng phương thức điện tử, trực tiếp, thông qua bộ phận một cửa hoặc qua dịch vụ bưu chính.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ và yêu cầu bổ sung, làm rõ nếu cần thiết.

Sau khi hồ sơ đầy đủ, trong thời hạn 02 ngày làm việc, cơ quan giải quyết bồi thường phải thụ lý, ghi vào sổ thụ lý, phân công người giải quyết và thông báo cho người yêu cầu bồi thường cũng như cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.

5. Có thể được tạm ứng ít nhất 75% một số khoản tiền bồi thường

Một điểm đáng chú ý khác là cơ chế tạm ứng kinh phí bồi thường.

Theo Điều 44 được sửa đổi, trong một số trường hợp, khi người yêu cầu bồi thường có đề nghị, cơ quan giải quyết bồi thường thực hiện tạm ứng tiền bồi thường đối với một số khoản thiệt hại về tinh thần và thiệt hại có thể xác định được ngay.

Mức tạm ứng được quy định ít nhất bằng 75% số tiền bồi thường đối với các khoản thiệt hại thuộc trường hợp được tạm ứng.

Quy định này tạo điều kiện để người bị thiệt hại có thể nhận trước một phần khoản bồi thường trong trường hợp thiệt hại đã có căn cứ xác định nhưng toàn bộ quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường chưa hoàn tất.

6. Rút ngắn thời gian xác minh, thương lượng và ra quyết định

Luật mới quy định cụ thể các thời hạn trong từng giai đoạn giải quyết yêu cầu bồi thường.

Sau khi thụ lý, cơ quan giải quyết bồi thường tiến hành xác minh thiệt hại. Thời hạn xác minh thông thường là 10 ngày làm việc; trường hợp vụ việc phức tạp hoặc liên quan đến nhiều địa phương có thể kéo dài đến 20 ngày và có thể được gia hạn theo thỏa thuận.

Sau khi hoàn thành việc xác minh, việc thương lượng được tiến hành trong thời hạn 02 ngày làm việc.

Thời gian thương lượng thông thường không quá 08 ngày làm việc, trường hợp phức tạp không quá 10 ngày làm việc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận gia hạn theo quy định.

Sau khi có biên bản thương lượng hoặc thuộc trường hợp người yêu cầu bồi thường từ chối thương lượng, cơ quan có thẩm quyền phải ban hành quyết định giải quyết bồi thường trong thời hạn 02 ngày làm việc theo quy định mới.

Như vậy, trình tự từ tiếp nhận hồ sơ, thụ lý, xác minh, thương lượng đến ra quyết định đều được gắn với thời hạn cụ thể.

7. Người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện khi cơ quan không giải quyết đúng thời hạn

Luật số 15/2026/QH16 tiếp tục bảo đảm quyền khởi kiện của người yêu cầu bồi thường.

Theo quy định mới, người yêu cầu bồi thường có thể khởi kiện trong trường hợp đã nhận được quyết định giải quyết bồi thường hoặc khi hết thời hạn ra quyết định theo Điều 47 mà cơ quan có thẩm quyền vẫn không ban hành quyết định.

Thời hạn khởi kiện được quy định là 60 ngày.

Về thẩm quyền, Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm là Tòa án nơi người yêu cầu bồi thường cư trú, làm việc hoặc nơi cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại đặt trụ sở, tùy theo lựa chọn của người yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật.

Đây là cơ chế nhằm bảo đảm quyền khởi kiện của người bị thiệt hại khi việc giải quyết yêu cầu bồi thường không được thực hiện hoặc không được giải quyết theo đúng quy định.

8. Mức bồi thường thiệt hại về tinh thần được điều chỉnh

Luật số 15/2026/QH16 sửa đổi quy định về mức bồi thường thiệt hại về tinh thần.

Một số khoản bồi thường được xác định dựa trên mức lương cơ sở, trong đó có trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu; bị tạm giữ hành chính; đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Theo quy định mới:

  • Đối với thời gian bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu: mức bồi thường được tính bằng 0,5 ngày lương cơ sở cho mỗi ngày;
  • Đối với thời gian bị tạm giữ hành chính, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc: 02 ngày lương cơ sở cho mỗi ngày;
  • Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường về tinh thần tối đa bằng 50 tháng lương cơ sở;
  • Một ngày lương cơ sở được xác định bằng mức lương cơ sở của tháng chia cho 22 ngày.

Ngoài thiệt hại về vật chất và tinh thần, Luật mới còn bổ sung quy định về các quyền và lợi ích hợp pháp khác được khôi phục, bảo đảm theo quy định của pháp luật.

9. Mở rộng các trường hợp được phục hồi danh dự

Phục hồi danh dự tiếp tục là một nội dung quan trọng trong cơ chế trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Luật sửa đổi quy định việc phục hồi danh dự đối với người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, công chức bị buộc thôi việc trái pháp luật và người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trái pháp luật.

Việc phục hồi danh dự có thể được thực hiện thông qua cải chính, xin lỗi trên báo chí hoặc xin lỗi trực tiếp, tùy từng trường hợp.

Theo quy định mới, cơ quan có trách nhiệm phải thông báo về việc phục hồi danh dự trong thời hạn 10 ngày làm việc; việc xin lỗi trực tiếp được thực hiện trong thời hạn 10 ngày kể từ khi người bị thiệt hại đồng ý hoặc có yêu cầu; việc cải chính, xin lỗi trên báo được thực hiện trong thời hạn 10 ngày, đăng trong 03 số báo liên tiếp theo quy định.

Đây không chỉ là vấn đề bồi thường về vật chất mà còn nhằm khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp, danh dự của người bị thiệt hại.

10. Thay đổi đáng chú ý về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ

Luật năm 2017 xác định người thi hành công vụ có lỗi gây thiệt hại phải hoàn trả cho ngân sách nhà nước một phần hoặc toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại. Nếu nhiều người cùng gây thiệt hại thì mức hoàn trả được xác định tương ứng với mức độ lỗi và thiệt hại.

Luật số 15/2026/QH16 tiếp tục quy định trách nhiệm hoàn trả nhưng đồng thời bổ sung cơ chế giảm mức hoàn trả và miễn hoàn trả trong những trường hợp nhất định.

Đối với trường hợp người thi hành công vụ có lỗi cố ý nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mức hoàn trả được xác định trong khoảng 30 đến 50 tháng lương, đồng thời không vượt quá 50% số tiền Nhà nước đã bồi thường.

Đối với lỗi vô ý, người thi hành công vụ có thể được giảm mức hoàn trả nếu đáp ứng các điều kiện theo luật định, trong đó có việc chủ động khắc phục hậu quả, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường và đã hoàn trả ít nhất 50% số tiền phải hoàn trả.

Một số trường hợp đặc biệt còn có thể được miễn hoàn trả, chẳng hạn trường hợp thực hiện đổi mới sáng tạo đã được phê duyệt và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội, mắc bệnh hiểm nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc có thành tích đặc biệt xuất sắc theo quy định.

11. Quy định rõ hơn về thời hạn chi trả tiền bồi thường

Luật mới quy định sau khi quyết định giải quyết bồi thường hoặc bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực, cơ quan có trách nhiệm phải thông báo việc chi trả cho người được bồi thường trong thời hạn 02 ngày làm việc.

Sau khi người yêu cầu bồi thường nhận được thông báo, việc chi trả tiền bồi thường được thực hiện trong thời hạn 02 ngày làm việc.

Trường hợp sau thời hạn 03 năm kể từ ngày nhận được thông báo mà người yêu cầu bồi thường không nhận tiền thì số tiền bồi thường được xử lý theo quy định của Luật, trừ khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

12. Quy định chuyển tiếp khi Luật mới có hiệu lực

Luật số 15/2026/QH16 có hiệu lực từ ngày 01/3/2027.

Đối với các trường hợp yêu cầu bồi thường đã được thụ lý trước ngày Luật mới có hiệu lực nhưng chưa giải quyết xong, việc tiếp tục áp dụng pháp luật được thực hiện theo quy định chuyển tiếp của Luật sửa đổi.

Đặc biệt, đối với những thủ tục chưa hoàn thành kể từ ngày Luật mới có hiệu lực, cơ quan có thẩm quyền áp dụng quy định có lợi hơn cho người yêu cầu bồi thường hoặc người thi hành công vụ, trừ trường hợp chủ thể liên quan có yêu cầu khác theo quy định.

Do đó, đối với những vụ việc đang trong quá trình giải quyết tại thời điểm ngày 01/3/2027, việc xác định chính xác thời điểm thụ lý, giai đoạn giải quyết và quy định chuyển tiếp có ý nghĩa quan trọng đối với quyền và nghĩa vụ của các bên.

LUẬT MINH NGUYÊN – GIẢI PHÁP PHÁP LÝ HIỆU QUẢ
Quý khách vui lòng liên hệ để được tư vấn:
☎ Điện thoại (Zalo): 0941.776.999 hoặc 0888.695.000
✉ Email: bealaw01@gmail.com
🏢 Địa chỉ: Số 58, đường 01, Khu Sunrise C, KĐT The Manor Central Park, Thanh Liệt, Thanh Trì, Thành phố Hà Nội.

You may also like

Với phương châm “Đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu”, chúng tôi luôn nỗ lực để đem đến “Giải pháp pháp lý hiệu quả” cho quý khách, là chỗ dựa vững chắc cho khách hàng

Copyright @2021  All Right Reserved – Designed and Developed by Meow